Saturday, June 27, 2020
Friday, June 26, 2020
Thursday, June 25, 2020
Monday, June 22, 2020
Thủ tục phân tích trong kiểm toán BCTC
Thủ tục phân tích trong kiểm toán BCTC
Hoạt động kiểm toán ở Việt Nam, bắt đầu hình thành từ năm 1991 và được đánh dấu mốc phát triển mạnh mẽ đầu tiên khi Nghị định 105/2004/NĐ-CP dành riêng cho kiểm toán độc lập ra đời. Thị trường kiểm toán ngày càng phát triển và lớn mạnh, đồng nghĩa với sự cạnh tranh giữa các công ty kiểm toán ngày càng gay gắt. Đặc biệt, trong thời kỳ hội nhập nền kinh tế thế giới, các công ty kiểm toán Việt Nam phải chịu sức ép cạnh tranh từ các công ty kiểm toán quốc tế. Chính vì vậy, các công ty kiểm toán Việt Nam bằng nhiều cách khác nhau đang cố gắng tìm mọi cách tiếp cận với phương pháp, kỹ thuật kiểm toán tiên tiến trên thế giới, nhằm nâng cao chất lượng hoạt động kiểm toán của mình.
Một trong các công cụ hữu ích, giúp KTV thu thập bằng chứng kiểm toán cũng như đưa ra các kết luận kiểm toán phù hợp, giảm thiểu rủi ro kiểm toán đáng kể mà các công ty kiểm toán Việt Nam ngày nay đang hướng đến, trong cuộc kiểm toán BCTC là thủ tục phân tích. Đây là thủ tục kiểm toán khá đơn giản, ít tốn kém thời gian, chi phí nên nếu vận dụng tốt thủ tục phân tích sẽ giúp KTV và các công ty kiểm toán tiết kiệm thời gian, chi phí. Đồng thời, giúp cuộc kiểm toán được thực hiện một cách khoa học, hiệu quả. Chính vì vai trò, ý nghĩa to lớn trên của thủ tục phân tích nên việc tăng cường nghiên cứu và vận dụng phương pháp này một cách đúng đắn, khoa học là cần thiết, khách quan và phù hợp với xu thế kiểm toán trên thế giới.
Theo Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam - VSA 520 thì “Thủ tục phân tích được hiểu là việc đánh giá thông tin tài chính, qua việc phân tích các mối quan hệ hợp lý giữa dữ liệu tài chính và phi tài chính”.
Như vậy, thủ tục phân tích là quá trình đánh giá thông tin tài chính được thực hiện thông qua việc nghiên cứu các mối quan hệ đáng tin cậy giữa các chỉ tiêu tài chính và phi tài chính, …Bao gồm cả quá trình so sánh số liệu phản ánh trên sổ sách với số liệu ước tính của KTV. Thủ tục phân tích cũng bao gồm việc điều tra, khi cần thiết, về các biến động hoặc các mối quan hệ được xác định là không nhất quán với các thông tin liên quan khác hoặc có sự chênh lệch đáng kể so với các giá trị dự tính.
Thủ tục phân tích là một công cụ hữu dụng, để đưa ra các quyết định khi BCTC có chứa các mối quan hệ cũng như những khoản mục bất thường. Thủ tục phân tích có thể được tiến hành từ việc so sánh một cách cơ bản các khoản mục đến phân tích phức tạp để tìm ra những biến động bất thường.
Thủ tục phân tích có vai trò và ý nghĩa quan trọng, trong cả ba giai đoạn của cuộc kiểm toán BCTC. Nếu như trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán, KTV vận dụng thủ tục phân tích như các thủ tục đánh giá rủi ro nhằm xác định, khoanh vùng các rủi ro có sai sót trọng yếu trên BCTC thì trong giai đoạn thực hiện kiểm toán, KTV vận dụng thủ tục phân tích như một biện pháp xử lý các rủi ro đã được xác định trong giai đoạn lập kế hoạch. Và cuối cùng, trong giai đoạn kết thúc kiểm toán, KTV tiếp tục sử dụng phương pháp này để đánh giá sự biến động của các bộ phận, khoản mục sau khi được điều chỉnh trên BCTC có nhất quán với hiểu biết của KTV hay không? Tuy nhiên, việc vận dụng thủ tục phân tích trong kiểm toán BCTC tại các công ty kiểm toán Việt Nam hiện nay còn nhiều hạn chế. Cụ thể là:
Thứ nhất, trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán
Trong giai đoạn này, thủ tục phân tích chủ yếu được áp dụng như một phương pháp đánh giá rủi ro có sai sót trọng yếu bằng cách, xác định những biến động bất thường để khoanh vùng các khu vực có thể xảy ra sai sót trọng yếu. Tuy nhiên, trong thực tế nhiều KTV không sử dụng phương pháp này để đánh giá rủi ro trong giai đoạn lập kế hoạch. Nếu có, đối tượng vận dụng thủ tục phân tích cũng còn nhiều hạn hẹp. Ví dụ như, KTV hầu như chỉ thực hiện phân tích với Bảng cân đối kế toán và Báo cáo kết quả kinh doanh mà không áp dụng với Báo cáo lưu chuyển tiền tệ. Bên cạnh đó, KTV không vận dụng đa dạng các loại phân tích như phân tích dọc, phân tích tính hợp lý mà chỉ tập trung sử dụng phân tích ngang với các bộ phận, khoản mục trên Bảng cân đối kế toán và Báo cáo kết quả kinh doanh. Chính vì vậy, KTV chỉ nhận biết được tình hình biến động tăng giảm của các khoản mục giữa các kỳ mà không đánh giá mối quan hệ giữa các chỉ tiêu với nhau. Ngoài ra, các KTV chưa đi sâu vào việc phân tích kết hợp với các thông tin phi tài chính khác như chiến lược kinh doanh, chiến lược tài chính của đơn vị, các chính sách của Nhà nước cũng như các yếu tố khác, để nhận biết và đánh giá sâu sắc hơn các biến động bất thường, từ đó nhận biết các vùng có khả năng chứa đựng rủi ro.
Thứ hai, trong giai đoạn thực hiện kiểm toán
Đa phần công ty kiểm toán đều xây dựng chương trình kiểm toán chi tiết, về nội dung và cách thức vận dụng các thủ tục phân tích trong giai đoạn thực hiện kiểm toán, nhằm giảm thiểu kiểm tra chi tiết về nghiệp vụ và số dư tài khoản. Tuy nhiên, do hạn chế về thời gian nên nhiều KTV đã không thực hiện hoặc thực hiện sơ sài phương pháp này. Do đó, số lượng kiểm tra chi tiết nghiệp và số dư tài khoản tăng lên, tốn kém thời gian và chi phí cuộc kiểm toán. Với một số nhóm công ty kiểm toán nước ngoài, KTV thường áp dụng kỹ thuật phân tích ngang và phân tích dọc với các chỉ tiêu trên Bảng cân đối kế toán và Báo cáo kết quả kinh doanh với mức độ phân tích chi tiết hơn (theo tháng, theo sản phẩm, theo nội dung của khoản mục,...). KTV cũng tự xây dựng các ước tính trong trường hợp các dự liệu sử dụng để ước tính có độ tin cậy cao. Loại phân tích này, có thể cung cấp bằng chứng thay thế một số thử nghiệm kiểm tra chi tiết về nghiệp vụ và số dư tài khoản với một số cơ sở dẫn liệu nhất định. Bên cạnh đó, KTV ở các nhóm công ty kiểm toán này có thể thực hiện kiểm tra tính hợp lý của các số dư tài khoản bằng cách sử dụng các thông tin phi tài chính để phân tích.
Thứ ba, trong giai đoạn kết thúc kiểm toán
Thủ tục phân tích được tiến hành trong giai đoạn này, chủ yếu là phân tích soát xét BCTC lần cuối và đánh giá khả năng hoạt động liên tục của khách hàng. Đa phần các công ty kiểm toán và KTV vừa và nhỏ đều ít khi vận dụng thủ tục phân tích để thực hiện phân tích soát xét BCTC lần cuối. Bên cạnh đó, nhiều KTV và công ty kiểm toán cũng không tiến hành phân tích về khả năng hoạt động liên tục của khách hàng. Hầu hết, các công ty kiểm toán Việt Nam đều chưa biết đến việc vận dụng thủ tục phân tích để phân tích khả năng hoạt động của khách hàng như xét đoán các dấu hiệu lỗ liên tục trong nhiều năm, nợ ngắn hạn lớn hơn tài sản ngắn hạn, tính thanh khoản thấp hoặc không có sự hỗ trợ từ phía công ty mẹ,....
Như vậy, việc vận dụng thủ tục phân tích của KTV và các công ty kiểm toán Việt Nam trong cuộc kiểm toán BCTC còn nhiều hạn chế và không hiệu quả. Cụ thể là, phạm vi vận dụng của thủ tục phân tích còn hạn hẹp chỉ bao gồm Bảng cân đối kế toán, Báo cáo kết quả kinh doanh mà chưa mở rộng phân tích Báo cáo lưu chuyển tiền tệ và các thông tin phi tài chính khác. Bên cạnh đó, KTV ít sử dụng các kỹ thuật phân tích khác như phân tích tính hợp lý hay mô hình phân tích, dẫn đến làm giảm hiệu quả phân tích. Nhiều công ty kiểm toán vừa và nhỏ thực hiện thủ tục phân tích một cách máy móc, dập khuôn với tất cả các phần hành.
Một số định hướng hoàn thiện:
Thứ nhất, cần tăng cường công tác nghiên cứu về vận dụng thủ tục phân tích
Hoàn thiện việc vận dụng thủ tục phân tích trong kiểm toán BCTC phải hướng đến hoàn thiện về phạm vi, nội dung vận dụng của phương pháp này trong cả ba giai đoạn của cuộc kiểm toán. Ví dụ như, trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán, KTV có thể mở rộng phạm vi áp dụng phân tích ngang và phân tích dọc với Báo cáo lưu chuyển tiền tệ, hay so sánh các thông tin tương ứng của ngành. Đồng thời, KTV có thể kết hợp với phân tích các thông tin phi tài chính khác nhằm đưa ra xét đoán toàn diện hơn. Trong giai đoạn thực hiện kiểm toán, KTV có thể nghiên cứu và vận dụng thêm các mô hình ước tính để phân tích và xét đoán. Mô hình ước tính càng chi tiết thì độ tin cậy của nó càng cao. Đặc biệt, trong giai đoạn kết thúc kiểm toán, KTV cần vận dụng thủ tục phân tích để đánh giá tổng thể BCTC lần cuối và xem xét khả năng hoạt động liên tục của khách hàng,....
Thứ hai, nâng cao chất lượng của đội ngũ KTV
Chất lượng KTV là nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến chất lượng của cuộc kiểm toán BCTC nói chung và việc thực hiện quy trình thủ tục phân tích nói riêng của các công ty kiểm toán của Việt Nam. Chính vì vậy, các công ty kiểm toán cần tăng cường công tác nghiên cứu, trao đổi, bồi dưỡng nhằm nâng cao trình độ của KTV về việc vận dụng thủ tục phân tích trong cả ba giai đoạn của cuộc kiểm toán. Do đó, các công ty kiểm toán cần phối hợp với các tổ chức nghề nghiệp kiểm toán, cần tăng cường công tác đào tạo chuyên môn cho các KTV nhằm nâng cao chất lượng kiểm toán.
Thứ ba, tăng cường công tác soát xét chất lượng kiểm toán
Theo Thông tư số 157/2014/TT- BTC, các cơ quan có thẩm quyền như Bộ Tài chính, ủy ban Chứng khoán Nhà nước được phép thành lập đoàn kiểm tra định kỳ hoặc đột xuất tại các doanh nghiệp kiểm toán. Việc tăng cường công tác kiểm soát chất lượng hoạt động kiểm toán nói chung và kiểm soát chất lượng vận dụng thủ tục phân tích nói riêng của các cơ quan này, sẽ khắc phục thực trạng không vận dụng hoặc vận dụng sơ sài, không hiệu quả thủ tục phân tích của các công ty kiểm toán ở Việt Nam. Chính vì vậy, trong thời gian tới các cơ quan này phải tăng cường hơn nữa các chế tài xử phạt và tích cực kiểm tra giám sát việc vận dụng thủ tục phân tích nhằm nâng cao chất lượng kiểm toán của các công ty kiểm toán ở Việt Nam.
Tóm lại, việc nghiên cứu và vận dụng thủ tục phân tích trong kiểm toán BCTC ở các công ty kiểm toán Việt Nam còn nhiều hạn chế, bất cập. KTV, các công ty kiểm toán và các cơ quan có thẩm quyền liên quan cần phát huy tốt vai trò của mình. Đồng thời, phối hợp thực hiện đồng bộ với nhau thì mới có thể hoàn thiện việc vận dụng thủ tục phân tích trong kiểm toán BCTC, tăng cường năng lực cạnh tranh của các công ty kiểm toán Việt Nam.
Tài liệu tham khảo
- Giáo trình Lý thuyết kiểm toán xuất bản năm do TS Nguyễn Viết Lợi và Thạc sỹ Đậu Ngọc Châu chủ biên, Nxb Tài chính năm 2009.
- Hồ sơ kiểm toán của các công ty Nhân việt, AASC, AVA, A&C, ASCO...
Theo Tạp chí Kế toán & Kiểm toán – Bài của ThS NCS Đinh Thị Thu Hà * Khoa Kế toán – Học viện Tài chính
Đề cương ôn tập kiểm toán
Câu 1: Lịch sử hình thành và phát triển của kiểm tra tài chính
Ở thời cổ đại: kế toán được thực hiện chủ yếu bằng những dấu hiệu riêng trên các sợi dây, thân cây lá…Vì nhu cầu quản lý còn ít và đơn giản. Cuối thời cổ đại, sản xuất phát triển nhu cầu kiểm tra tài sản, khoản thu chi càng phức tạp. Quản lý và kiểm tra độc lập đã phát sinh ở La Mã, Anh, Pháp.
Từ trung đại trở đi có sự hoàn thiện và phát triển dần của kế toán
- Đặc biệt từ thế kỷ XVI trở đi, xuất hiện kế toán kép
- Từ những năm 30 của thế kỷ XX: quan hệ tài chính phát triển tới mức vượt tầm kiểm soát.
- Ở mỹ UB bảo vệ và trao đổi tiền tệ (SEC) được thành lập và quy chế về kiểm toán viên bên ngoài bắt đầu có hiệu lực.
- Từ những năm 50 của thế kỷ XX: nghiệp vụ ngoại kiểm toán được bổ xung liên tục về cấu trúc
+ Ở Pháp: Kiểm toán nội bộ xuất hiện chính thức
+ Ở Việt Nam: Kiểm tra kế toán rất được quan tâm ngay từ khi bắt đầu xây dựng đất nước. Lịch sử của kiểm tra kế toán thông qua các thời kỳ sau:
. Năm 1967 Liên bộ thống kê và tài chính ban hành chế độ ghi chép
. Từ tháng 5/1988, nhà nước ta ban hành pháp lệnh kế toán thống kê. Có tầm quan trọng:
Thể chế chế độ thông tin kiểm tra
Thể hiện sự phân biệt thông tin quản lý
Phục vụ cho sự quản lý thống nhất của nhà nước
Thể hiện tính thống nhất và tiêu chuẩn hóa cao
Chế độ kế toán mới đã được ban hành thay cho chế độ kế toán cũ
+ Kiểm toán độc lập: hình thành và phát triển trước ngày giải phóng miền nam
+ Kiểm tra vĩ mô của nhà nước: Có nhiệm vụ kiểm tra, thanh tra, kiểm soát việc thi hành chế độ thể lệ tài chính kế toán
Điều tra công việc, vụ việc
Lập biên bản
Vậy, kiểm toán nhà nước, kiểm toán nội bộ, kiểm toán độc lập phải hình thành những hệ thống pháp lí đến tổ chức bộ máy và từng bước hoàn thiện theo những yêu cầu đổi mới pháp lí.
Câu 2: Bản chất của kiểm toán
* Quan đểm 1: Đồng nhất giữa kiểm toán và kiểm tra kế toán
Quan điểm này xuất hiện năm 1986, quan điểm này mang tính truyền thống trong điều kiện kiểm tra chưa phát triển và trong cơ chế kế hoạch hóa tập trung trong đó nhà nước là chủ sở hữu đồng thời là người lãnh đạo trực tiếp nền kinh tế và chức năng kiểm tra được thực hiện trực tiếp bởi nhà nước và chức năng này gắn liền với hoạt động kế toán.
* Quan điểm 2: Đồng nhất giữa kiểm toán với kiểm toán tài chính. Quan điểm này phát sinh trong nền kinh tế thị trường
* Khái niệm kiểm toán: là hoạt động xác minh và bày tỏ ý kiến về bản khai tài chính của các xia nghiệp do các kiểm toán viên độc lập có trình độ nghiệp vụ tương đương thực hiện và dựa trên cơ sở hệ thống pháp lí đang có hiệu lực.
- Chức năng của kiểm toán: xác minh và bày tỏ ý kiến
+ Xác minh xem xét độ trung thực
+ Bày tỏ ý kiến: báo cáo kiểm toán và thử quản lí
- Đối tượng của kiểm toán: các bản khai tài chính
Báo cáo tài chính: Bảng cân đối kế toán, báo cáo kết quả kinh doanh, báo cáo lãi lỗ tài chính, thuyết minh báo cáo tài chính, các bảng khai theo quy định như bảng khai thuế thu nhập cá nhân, bản khai tài khoản kinh doanh, phá sản hoặc đấu giá.
- Chủ thể tiến hành cuộc kiểm toán: kiểm toán viên độc lập
Kiểm toán viên độc lập là việc kiểm tra xác nhận của kiểm toán về báo cáo tài chính của doanh nghiệp
- Điều kiện để trở thành kiểm toán viên độc lập:
+ Có trình độ chuyên môn, có chứng chỉ hành nghề do bộ tài chính cấp
+ Có phẩm chất đạo đức nghề nghiệp: không có tiền án tiền sự, trung thực, liêm khiết, thận trong nghề nghiệp.
+ Có 5 năm làm việc trong lĩnh vực tài chính kế toán
+ Tốt nghiệp chuyên nghành tài chính kế toán.
+ Tham gia thi 8 môn: 6 chuyên đề, thuế nâng cao, tài chính doanh nghiệp, luật kinh tế, kế toán doanh nghiệp, phân tích kinh doanh, kiểm toán và 2 môn bắt buộc tiếng anh và tin học.
+Đăng kí hành nghề
+ Có tính độc lập: độc lập về quan hệ xã hội,độc lập về quan hệ kinh tế, không góp vốn, không cho vay, không mua cổ phần và có thái độ hành nghề. Ở VN muốn trở thành một kiểm toán viên độc lập phải đăng kí làm việc ở 1 công ty.
- Khách thể kiểm toán: là các đơn vị được kiểm toán như các DN, XN, công ty…là các thực thể kinh tế có chứa đựng các bản khai tài chính.
- Cơ sở tiến hành cuộc kiểm toán: các chuẩn mực kế toán, chuẩn mực kiểm toán và những nguyên tắc chung được chấp nhận rộng rãi.
-Hạn chế của quan điểm:
+ Về đối tượng: chỉ mới dừng lại ở các bản khai tài chíh.
+ Về chủ thể: chưa có các tổ chức hoặc nhà nước tiến hành.
* Quan điểm 3: Theo quan điểm hiện đại kiểm toán được thực hiện trong 4 lĩnh vực sau:
- Kiểm toán thông tin là hướng đánh giá tính trung thực hợp pháp của tài liệu thông tin kế toán
- Kiểm toán quy tắc, tuân thủ là hướng đánh giá tình hình tuân thủ pháp luật, thể lệ, chế độ của đơn vị được kiểm toán trong quá trình hoạt động.
- Kiểm toán hiệu quả: nhằm xác minh mlh giữa chi phí và kết quả, xem xét kết quả đầu ra trong mối tương quan với các yếu tố đầu vào. Kiểm toán hiệu quả thường áp dụng ở lĩnh vực kinh doanh với mục tiêu là tối đa hóa lợi nhuận trong khi các nguồn lực này ngày càng bị giới hạn.
- Kiểm toán hiệu năng: nhằm xem xét và đánh giá kết quả thực hiện các mục tiêu về pháp lí, về xã hội. Kiểm toán hiệu năng thường áp dụng ở khu vực sự nghiệp. Khi đó kiểm toán viên sẽ xem xét mục tiêu của chương trình dự án có đạt đc hay không trước khi xét đến yếu tố kinh phí thực hiện dự án là gì dựa trên nguyên tắc tiết kiệm nguồn lực.
Câu 3: Chức năng của kiểm toán
* Chức năng xác minh: Nhằm khẳng định mức độ trung thực của các tài liệu, tính pháp lí của việc thực hiện các nghiệp vụ hay việc lập các bảng khai tài chính.
Chức năng xác minh trong kiểm toán báo cáo tài chính đc cụ thể hóa thành 6 mục tiêu sau:
- Xác minh tính hiệu lực có thật không khai khống, nhằm kđ mọi tài sản, mọi khoản công nợ, mọi khoản mục nghiệp vụ đc ghi nhận trên bảng khai tài chính đều thực sự tồn tại.
- Xác minh tính trọn vẹn và đầy đủ nhằm kđ mọi tài sản, mọi khoản mục nghiệp vụ đã phát sinh có liên quan tới đơn vị đều đã đc ghi nhận đầy đủ và không bỏ xót.
- Xác minh sự đánh giá nhằm kđ mọi tài sản, mọi khoản công nợ đều đc ghi nhận theo đúng giá trị đúng theo các PP tính giá và các ước tính kế toán đc áp dụng 1 cách nhất quán.
- Xác minh tính phân loại và trình bày: nhằm kđ mọi tài sản, mọi khoản công nợ đều đc phân loại và trình bày đúng theo các khoản mục chi tiết trên bản khai tài chính và đc thuyết minh đầy đủ rõ ràng.
- Xác minh quyền và nghĩa vụ: Nhằm kđ mọi tài sản của đơn vị đc trình bày trên các bản khai tài chính đều thuộc quyền của đơn vị ( SD, sở hữu, định đoạt), mọi khoản công nợ đều là nghĩa vụ của đơn vị tại thời điểm lập báo cáo tài chính.
- Xác minh tính chính xác cơ học: nhằn kđ các phép tính tổng cộng cộng dồn hoặc chuyển sổ sang trang đc thực hiện 1 cách chính xác số dư trên sổ cái tổng hợp phải khớp đúng với sổ chi tiết và sổ phụ có liên quan.
Chức năng xác minh trong kiểm toán hoạt động ngoài 6 mục tiêu trên còn có mục tiêu về sự phê chuẩn.
* Chức năng bày tỏ ý kiến:
- Chức năng bày tỏ ý kiến đc hiểu là việc đưa ra ý kiến kết luận về chất lượng của thông tin, tính pháp lí của việc thực hiện các nghiệp vụ hoặc việc lập các bản khai tài chính.
- Ở khu vực công: Việc bày tỏ ý kiến của cơ quan kiểm toán nhà nước có thể đc thực hiện dưới hình thức tư vấn hoặc phán quyết như một quan tòa.
- Ở khu vực ngoài ngân sách, bày tỏ ý kiến đc thực hiện dưới hình thức tư vấn.
* Ý nghĩa và tác dụng của kiểm toán trong quản lysP:
- Kiểm toán tạo niềm tin cho những người quan tâm.
+ Cơ quan quản lí nhà nước: cần thông tin trung thực để điều hành kinh tế vĩ mô ( thu đúng và thu đủ thuế).
+ Nhà đầu tư: cần thông tin trung thực để có chiến lược đầu tư.
+ Nhà quản trị trong DN: Phục vụ cho việc điều hành
+ Người lao động: nhằm xác minh sự phân chia thu nhập
+ Khách hàng và nhà cung cấp: xem xét đến giá cả và khả năng thanh toán các khoản nợ.
- Kiểm toán góp phần hướng dẫn nghiệp vụ củng cố nề nếp hoạt động tài chính kế toán nói riêng và hoạt động quản lí nói chung.
- Kiểm toán góp phần nâng cao hiệu quả và hiệu năng quản lí.
Câu 4: Các loại hình kiểm toán
1. Phân loại kiểm toán theo đối tượng cụ thể
* Kiểm toán tài chính:
- KN: Kiểm toán tài chính là xác minh và bày tỏ ý kiến về các bản khai tài chính của các thực thể kinh tế do các kiểm toán viên có trình độ nghiệp vụ tương xứng thực hiện trên cơ sở pháp lí đang có hiệu lực.
- Đối tượng: là các bản khai tài chính bao gồm báo cáo tài chính và các bản khai tài chính khác.
- Chủ thể:Kiểm toán tài chính đc thực hiện bởi 3 loại hình kiểm toán viên.Nhưng kiểm toán viên độc lập thực hiện là chủ yếu.
- Trình tự thực hiện cuộc kiểm toán ngược so với trình tự thực hiện kế toán.
- Mục đích thực hiện: Nhằm xác minh và bày tỏ ý kiến về tính trung thực và hợp lí của các bản khai tài chính. Vì vậy kiểm toán tài chính có thể đc thực hiện theo khoản mục hoặc theo trình tự.
- Cơ sở tiến hành: thước đo đúng sai của các bảng khai tài chính là chuẩn mực kế toán.
* Kiểm toán hoạt động:
- KN: Kiểm toán hoạt động là việc xác minh và bày tỏ ý kiến về các hoạt động nghiệp vụ cụ thể nhằm xem xét và đánh giá tính kinh tế, tính hiệu lực và tính hiệu quả.
- Đối tượng của kiểm toán hoạt động: là những hoạt động nghiệp cụ thể
+ Là việc đánh giá các phương án kinh doanh
+ Việc đánh giá cơ cấu tổ chức
+ Đánh giá chính sách bán hàng
+ Đánh giá một tài sản mới đc đưa vào sử dụng
+ Đánh giá về môi trường tin học
=> Đối tượng của kiểm toán hđ chính là các hoạt động diễn ra thường ngày của DN.
- Chủ thể: Được thực hiện bởi 3 loại hình kiểm toán viên, nhưng chủ yếu là kiểm toán nội bộ.
- Trình tự thực hiện cuộc kiểm toán hđ xuôi với trình tự thực hiện kế toán.
- Cơ sở tiến hành: do đối tượng của kiểm toán hđ rất đa dạng và phức tạp. Vì vậy việc XD chuẩn mực cho kiểm toán hđ mang nặng tính chủ quan.
- Mục đích: Báo cáo kiểm toán mang nặng tính giải chính và thường đề xuất các biện pháp nhằm cải tiến, khắc phục.
* Kiểm toán liên kết:
- KN: đó là sự sát nhập của 2 loại hình kiểm toán trên và áp dụng tại các đơn vị công cộng. Đây là việc thẩm định và sắp xếp các công việc quản lí, các nguồn tài chính, nhân lực, vật lực đã ủy quyền cho người SD theo mục đích đã đặt ra. Với ý nghĩa như vậy, kiểm toán liên kết đồng thời phải giải quyết 2 yêu cầu sau:
+ Xác định tính trung thực của các thông tin tài chính, yêu cầu này tương ứng với mục tiêu của kiểm toán tài chính.
+ Hướng vào những thành tích và hiệu quả, trong đó xem xét việc thiết lập hệ thống thông tin quản lí cũng như việc điều hành hướng tới tối ưu hóa việc sd các nguồn lực. Tiết kiệm, hiệu quả và hiệu năng.
. Tiết kiệm: là việc mua sắm các nguồn lực phải đc xd 1 cách hợp lí cả về số lượng và đảm bảo về chất lượng với chi phí thấp nhất.
. Hiệu quả: QH giữa 1 bên là các sản phẩm d.vụ làm ra với 1 bên là các nguồn lực đã tạo ra chúng. Nhưng với yêu cầu kết quả đạt đc là tối đa, với chi phí về nguồn lực là tối thiểu.
. Hiệu năng: xét đến mục tiêu và kết quả của 1 chương trình. Các chương trình khác nhau về mục tiêu, về quản lí thì hiệu năng đạt đc là khác nhau.
2. Phân loại kiểm toán theo bộ máy tổ chức
* Kiểm toán nhà nước:
- KN: Kiểm toán nhà nước là bộ máy chuyên môn của nhà nước thực hiện kiểm toán ngân sách và tài sản công.
- Chủ thể của cuộc kiểm toán: là các kiểm toán viên trước đây là các công chức nhà nước đc bổ nhiệm vào ngành kiểm toán.
Có những loại kiểm toán sau: K’T viên cao cấp, K’T viên chính, K’T viên, K’T viên dự bị.
ĐK: là phải tốt nghiệp đại học hoặc công tác ít nhất 3 năm làm trong lĩnh vực K’T nhà nước.
- Khách thể: là các tổ chức , cá nhân có liên quan đến việc huy động, quản lý và SD nguồn ngân sách nhà nước.
- MQH giữa chủ thể và khách thể K’T là ngoại kiểm
- Tính chất pháp lí: bắt buộc
- Chi phí K’T: không thu phí
- Giá trị pháp lí của báo cáo K’T: BCK’T nhà nước có giá trị pháp lí rất cao.
- Mô hình tổ chức:
+Kiểm toán trực thuộc chính phủ: Làm tăng tính nawg động của chính phủ.
+ K’T nhà nước trực thuộc quốc hội: Đảm bảo đc tính khách quan, giúp cho việc ban hành các đạo luật đc chặt chẽ hơn.
+ K’T nhà nước độc lập với chính phủ và quốc hội.
* Kiểm toán độc lập:
- KN: Tổ chức bộ máy của các kiểm toán viên chuyên nghiệp, ngành kiểm toán và các dịch vụ khác theo thỏa thuận bằng hợp đồng thời hạn xác định.
- Các dịch vụ đc K’T viên độc lập cung cấp: DV K’T, DV tư vấn, DV làm kế toán.
- Chủ thể của cuộc K’T: Là các K’T viên chuyên nghiệp có trình độ nghiệp vụ và đạo đức nghề nghiệp.
+Trình độ nghiệp vụ: Các K’T viên phải có chứng chỉ hành nghề( chứng chỉ kiểm toán viên công chứng – CPA).
+ Đạo đức nghề nghiệp: Các kiểm toán viên phải độc lập về các QH kinh tế và các QH xã hội đặc biệt là phải bí mật thông tin khách hàng.
- Khách thể: Là những thực thể kinh tế trong nền kinh tế khi có nhu cầu đc kiểm toán và đc chia làm 2 loại:
+ Khách thể bắt buộc: Các công ty kinh doanh tín dụng, các công ty 100% vốn nước ngoài, công ty kinh doanh bảo hiểm.
+ Khách thể tự nguyện: Trừ các loại trên
- MQH giữa chủ thể và khách thể: ngoại kiểm
- Tính chất pháp lí: tự nguyện
- Giá trị pháp lí: rất cao
- Chi phí kiểm toán: Có thu phí, mức phí tỉ lệ thuận với thời gian thực hiện cuộc kiểm toán.
- Mô hình tổ chức: Các cty kiểm toán độc, các cty hợp danh, các DN tư nhân kiểm toán, các cty TNHH 2 thành viên trở lên, văn phòng kiểm toán.
* Kiểm toán nội bộ
- KN: Là tổ chức bộ máy của các kiểm toán viên không chuyên nghiệp thực hiện kiểm toán trong phạm vi nội bộ DN nhằm phục vụ cho yêu cầu quản lí.
- Chủ thể: là các kiểm toán viên không chuyên nghiệp, nhưng nhất thiết phải có chứng chỉ viên CPA, Đây chủ yếu là các kiểm toán viên lâu năm hoặc những nhà quản lí có kinh nghiệm.
- Khách thể: chính là bản thân đơn vị đc kiểm toán hoặc những đơn vị bộ phận trực thuộc.
- MQH giữa chủ thể và khách thể kiểm toán là nội kiểm.
- Tính chất pháp lí là bắt buộc
- Giá trị pháp lí: không cao
- Chi phí: không thu phí
- Mô hình tổ chức:
+Bộ phận kiểm toán nội bộ đc áp dụng với các ngân hàng hoặc các tập đoàn kinh tế lớn.
+ Giám định viên kiểm toán.
* Phân loại theo quan hệ giữa chủ thể và khách thể kiểm toán: gồm nội kiểm và ngoại kiểm.
* Phân loại theo phạm vi tiến hành kiểm toán: K’T toàn diện, K’T chọn điểm.
* Phân loại theo lĩnh vực cụ thể của kiểm toán: K’T thông tin, K’T quy tắc (K’T tuân thủ), K’T hiệu năng, K’T hiệu quả.
* Phân loại theo chu kì của kiểm toán: K’T thường kì(thường xuyên), K’T định kì và K’T bất thường.
* Phân loại theo quan hệ pháp lí của kiểm toán: K’T bắt buộc, K’T tự nguyện.
Câu 5: Nêu khái quát chung về đối tượng kiểm toán và các yếu tố cấu thành nên kiểm toán
Khái quát chung về đối tượng kiểm toán:
- Để xem xét thông tin trên BCTC có trung thực khách quan hay không, kiểm toán phải đối chiếu số dư, kiểm tra chứng từ, đối tượng đầu tiên của kiểm toán là các tài liệu kế toán.
- Thực trạng tài chính của DN có thể đc phản ánh trên tài liệu kế toán cũng có thể chưa đc phản ánh trên tài liệu kế toán, đối tượng của kế toán chính là thực trạng hoạt động tài chính.
- Bên cạnh những nội dung trên thì kiểm toán còn quan tâm tới các lĩnh vực khác của quản lí như hiệu quả SD các nguồn lực, hiệu năng các dự án…,đối tượng kiểm toán là hiệu quả, hiệu năng.
- Hoạt động tài chính là dùng tiền để giải quyết các mqh kinh tế trong đầu tư, kd, phân phối và thanh toán nhằm đạt đc lợi ích kinh tế xác định.
- Hoạt động tài chính phải tuân thủ các nguyên tắc:
+ Phải có mục tiêu, phương hướng và kế hoạch cụ thể
+ Đảm bảo tính tiết kiệm , có lợi
+ phải thực hiện chế độ tài chính nghĩa vụ với công nhân viên
Các yếu tố cấu thành nên kiểm toán:
*Thực trạng hoạt động tài chính:
- HĐ tài chính: Đối tượng chung của kiểm. Thông tin về hđ tài chính là mối quan tâm của đông đảo người sử dụng. Nhưng thông tin này có thể sai lệch. Có 2 nhận định:
+ HĐ tài chính là đối tượng của nhiều môn học như kinh tế học, tài chính, phân tích, kế toán, kiểm toán…trong đó kiểm toán chỉ quan tâm đến thực trạng hđ tài chính có nghĩa là tìm hiểu thực trạng và đưa ra ý kiến.
+ Thực trạng hđ tài chính có 2 phần rõ rệt: 1 phần được thể hiện trên các chứng từ, tài liệu, 1 phần không hoặc chưa được thể hiện trên bất kì 1 chứng từ hoặc tài liệu nào.
- Để thực hiện chức năng của mình trong kiểm toán phải hình thành 2 phân hệ phương pháp.
+ Phương pháp kiểm toán chứng từ: Để đánh giá phần thực trạng đã đc thể hiện trên các chứng từ, tài liệu.
+ Phương pháp kiểm toán ngoài chứng từ: Để đánh giá phần thực trạng không hoặc chưa đc tiến hành thể hiện trên các chứng từ, tài liệu.
* Tài liệu kế toán: Là đối tượng cụ thể của kiểm toán
- KN: Tài liệu kế toán là hệ thống chứng từ, sổ sách bảng biểu và báo cáo tài chính kế toán.
- Tài liệu kế toán trở thành đối tượng của kinh tế vì đây là phần quan tâm trực tiếp và thường xuyên của nhà quản lý và những đối tượng quan tâm khác.
- Khi kiểm toán tài liệu kế toán, kiểm toán viên cần lưu ý những điểm sau:
+ Tính đầy đủ của tài liệu kế toán
+ Tính hiệu lực của tài liệu kế toán
+ Tính hợp pháp cảu các biểu mẫu và báo cáo tài chính kế toán
* Thực trạng tài sản và các nghiệp vụ tài chính:
- Trong 1 đơn vị, tài sản đc biểu hiện dưới nhiều hình thái vật chất khác nhau, đc lưu trữ ở nhiều kho bãi khác nhau với đk bảo quản là khác nhau.
- Đặc biệt ngày càng có sự cách biệt giữa người sở hữu tài sản với người quản lí và sd tài sản. Luôn có sự nghi ngờ của người sở hữu tài sản đối với thực trạng hđ của tài sản . Chính vì vậy, thực trạng hđ của tài sản trở thành đối tượng của kiểm toán là 1 đòi hỏi tất yếu khách quan.
- Trong một đơn vị tài sản và nguồn vốn luôn luôn vận động. Sự vận động của tài sản và nguồn vốn đc thông qua các nghiệp vụ tài chính. Vì vậy các nghiệp vụ tài chính cũng trở thành 1 phần quan trọng của đối tượng kiểm toán.
- Có thể phân chia cá nghiệp vụ tài chính thành các nhóm nghiệp vụ sau:
+ Các nghiệp vụ thu chi quỹ tiền mặt
+ Các nghiệp vụ mua sắm đầu tư TSCĐ
+ Các nghiệp vụ tính và chi trả lương
+ Các nghiệp vụ bán hàng và thu tiền
Đây chính là những phần hành của kế toán
* Hiệu quả hiệu quả và hiệu năng quản lí:
Đây là đối tượng mới của kiểm toán. Tuy nhiên có vai trò ngày càng quan trọng trong bối cảnh cạnh tranh khốc liệt, nguồn lực khan hiếm, tham vọng lớn, bối cảnh kinh doanh phức tạp. Có 1 số đặc điểm ảnh hưởng đến kiểm toán.
- Hiệu quả, hiệu năng phải gắn với 1 hoạt động, nghiệp vụ, dự án, chương trình cụ thể.
- Để đánh giá hiệu quả, hiệu năng, kiểm toán viên cần thiết lập các tiêu chuẩn, chuẩn mực để đánh giá các tiêu chuẩn và chuẩn mực này chỉ để mang tính tương đối và rất khó thiết lập trong đó tiêu chuẩn, chuẩn mực đánh giá hiệu quả dựa trên MQH giữa đầu ra và đàu vào sao cho đạt đc nhiều đầu ra nhất trên cơ sở đầu vào ít nhất đánh giá hiệu năng là các mục tiêu cần đạt đc.
Câu 6: Khái niệm gian lận, sai sót. Phân biệt gian lận và sai sót?
Khái niệm gian lận và sai xót:
* Gian lận:
- Kn: Gian lận là những hành vi cố ý lừa dối, giấu giếm, xuyên tạc sự thật với mục đích tư lợi.
- Các biểu hiện của gian lận:
+ Xuyên tạc, làm giả chứng từ, tài liệu kế toán
+ Cố ý ghi chép các nghiệp vụ không có thật, bỏ xót các nghiệp vụ đã phát sinh.
+ Cố ý tính toán hay ghi chép sai về số học
+ Biển thủ về tài sản
+ Cố ý áp dụng sai chuẩn mực, chế độ kế toán.
* Sai xót:
- KN: Sai xót là lỗi không cố ý nhưng vẫn làm ảnh hưởng đến báo cáo tài chính.
- Các hình thức biểu hiện:
+ Lỗi về tính toán ghi chép sai về mặt số học nhưng không cố y.
+ Áp dụng sai chế độ kế toán, nhưng không cố ý.
* MQH giữa gian lận và sai xót:
- Giống nhau: Đều là sai phạm ảnh hưởng tới báo cáo tài chính và đều có tính chất liên đới đối với các nhà quản lí.
- Khái nhau:
+ Về mặt ý thức: Gian lận là hành vi cố ý thường lwan đến các nhà quản lí cấp cao như lập kế hoạch, xóa dấu vết… Sai xót là hành vi không cố ý.
+ Mức độ tinh vi và khả năng phát hiện: Gian lận là khả năng che đậy rất tinh vi và khó phát hiện. Sai xót dễ phát hiện.
+ Mức độ nghiêm trọng: Mọi gian lận đều nghiêm trọng. Sai xót nhỏ đều có thể bỏ qua.
Phân biệt gian lận và sai xót:
- Gian lận: Sự xúi giục, thời cơ, thiếu liêm khiết. Thời cơ đến từ lỗ hổng, điểm yếu của kiểm soát trong nội bộ DN hoặc đến từ các nhà quản lí có quyền phủ quyết các yếu tố kiểm soát.
- Sai xót: Sức ép tâm lí, công việc, môi trường làm việc có thể làm sai xót nảy sinh phát triển.
Trình độ xử lí công việc kém, tất yếu làm nảy sinh sai xót. Lề lối làm việc cẩu thả, thiếu thận trọng, thiếu trách nhiệm.
- Điều kiện làm sai phạm gia tăng bối cảnh kinh doanh khó khăn, nghiệp vụ phức tạp, các nhà quản lí có tư cách, cá nhân không “đắc nhân tâm”, kiểm toán tồi…
- Dấu hiệu phát hiện gian lận:
+ Cá nhân: những bất thường trong tâm lí, cảm xúc, hành vi…
+ Tổ chức(DN): Bị cơ quan công quyền điều tra, phí trả cho luật sư, môi giới, tư vấn cao đột biến.
* TRách nhiệm của kiểm toán viên đối với gian lận và sai xót:
- Hiểu và phân biệt đc thế nào là gian lận và sai xót
- Đánh giá đc khả năng xảy ra gian lận, sai xót.
- Lập kế hoạch thực hiện và giám sát thực hiện cuộc kiểm toán hoạt động có hiệu lực nhằm đảm bảo 1 cách hợp lí trong việc phát hiện các sai phạm trọng yếu.
- Báo cáo các phát giác của mình cho nhà quản lí, người sử dụng và cơ quan có thẩm quyền liên quan.
Câu 7: Trọng yếu và rủi ro kiểm toán ( rủi ro tiềm tàng, rủi ro kiểm soát, rủi ro phát hiện)
* Trọng yếu: là khái niệm chỉ độ lớn, bản chất của phần nội dung cơ bản của kiểm toán có ảnh hưởng tới việc nhận thức , đánh giá đúng đắn đối tượng kiểm toán và việc sử dụng thông tin đã đánh giá đó để ra quyết định quản lí.
- Vì sao phải quan tâm đến khái niệm này?
+ Có những sai phạm nhỏ không ảnh hưởng tới việc nhận thức, đánh giá đối tượng kiểm toán để đưa ra quyết định.
+ Việc phải tìm kiếm mọi sai phạm sẽ khiến cho chi phí xã hội của kiểm toán vượt quá lợi ích mà nó đem lại.
- Hai mặt của khái niệm trọng yếu
+ Định lượng: Sai phạm lớn là nghiêm trọng(tuyệt đối) sai phạm đủ to nhưng xét trên một phương diện nào đó.
+ Định tính( Báo cáo của sai phạm); sai phạm đó có phải cố ý không, có thể làm thay đổi tỉ suất lợi nhuận ko?
* Rủi ro kiểm toán(AR): Là rủi ro xảy ra khả năng kiểm toán kết luận của kiểm toánviên và DN kiểm toán có sự sai lệch khi báo cáo tài chính đã đc kiểm toán vẫn còn những sai phạm trọng yếu.
- Đánh giá rủi ro:
+ Rủi ro kiểm toán và bằng chứng kiểm toán có mlh tỉ lệ nghịch.
+ Rủi ro kiểm toán không bao giờ bằng o chi dù kiểm toán viên có thể thu thập đc đầy đủ các bằng chứng kiểm toán.
+ Ở mức rủi ro mong muốn, qua đó xác định đc khối lượng công việc cần thực hiện và tiết kiệm chi phí thay cho việc kiểm tra tất cả.
Các loại rủi ro kiểm toán:
- Rủi ro tiềm tàng(IR): Là rủi ro tiềm ẩn vốn có do bản thân các khoản mục, nghiệp vụ trong báo cáo tài chính chứa đựng các sai phạm trọng yếu khi tính riêng rẽ hay tính gộp cho dù có hay không có sự hoạt động của hệ thống kiểm soát nội bộ.
Rủi ro tiềm tàng phụ thuộc vào bản chất của loại hình kinh doanh. Kiểm toán viên ko tạo ra và cũng ko kiểm soát đc rủi ro tiềm tàng mà chỉ có thể đánh giá rủi ro tiềm tàng thông qua việc đánh giá bản chất của loại hình kinh doanh và thông qua việc đánh giá tính liêm chính của ban quản trị.
- Rủi ro kiểm soát(CR): Là rủi ro xảy ra khả năng các khoản mục nghiệp vụ trong báo cáo tài chính chứa đựng các sai phạm trọng yếu khi tính riêng lẻ hay tính gộp do hệ thống kiểm toán và hệ thống kiểm soát nội bộ không ngăn ngừa hết, ko phát hiện và xử lí kịp thời. Kiểm toán viên ko tạo ra đồng thời ko kiểm soát đc rủi ro kiểm soát. Kiểm toán viên chỉ có thể đánh giá RR kiểm soát thông qua việc đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ.
- Rủi ro phát hiện(DR): Là rủi ro xảy ra khả năng các khoản mục nghiệp vụ trong báo cáo tài chính chứa đựng các sai phạm trọng yếu khi tính riêng lẻ hay tính gộp do kiểm toán viên không phát hiện đc trong quá trình kiểm toán.
DR phụ thuộc vào phạm vi kiểm toán và PP kiểm toán mà kiểm toán viên sử dụng.
* Mối quan hệ giữa các loại rủi ro: AR =IR x CR x DR => DR = AR / (IR x CR).
Câu 8: Trình bày chứng từ kế toán,cơ sở dẫn liệu, bằng chứng kiểm toán và hồ sơ kiểm toán?
* Chứng từ kiểm toán:
- Là all các nguồn tài liệu sẵn có cung cấp cho kiểm toán viên. Đây vừa là đối tượng của kiểm toán vừa là căn cứ cơ sở cho việc xđ nội dung kiểm toán, mục tiêu kiểm toán và là minh chứng bằng văn bản cho các khoản mục nghiệp vụ phát sinh.
- Chứng từ kiểm toán bao gồm:
+ Chứng từ kế toán: Bảng kê, bảng tổng hợp chứng từ gốc, sổ tổng hợp, sổ chi tiết.
+ Các biên bản nghị quyết họp đại hội đồng cổ đông, hội đồng thành viên.
+ Các quyết định bổ nhiệm, miễn nhiệm các chức danh quản lí.
+ Các tài liệu kiểm kê và các tài liệu khác có liên quan.
* Cơ sở dẫn liệu:
- KN: Là những căn cứ cơ sở trong việc lập và trình bày báo cáo tài chính do ban giám đốc đơn vị chịu trách nhiệm lập dựa trên hệ thống pháp lí đang có hiệu lực.
- Có thể hiểu đơn giản cơ sở dẫn liệu của báo cáo tài chính là những cam kết công khai ko ngầm định trong việc lập và trình bày báo cáo tài chính của ban giám đốc đơn vị.
- Cơ sở dẫn liệu của báo cáo tài chính bao gồm:
+ Cơ sở dẫn liệu về sự hiện hữu và phát sinh. Ban giám đốc đơn vị cam kết rằng mọi tài sản, mọi khoản công nợ, mọi khoản mục nghiệp vụ kinh tế phát sinh đc nghi nhận trên bảng khai tài chính đều thực sự tồn tại và đã phát sinh có liên quan đến đơn vị.
+ Cơ sở dẫn liệu về tính trọn vẹn và đầy đủ. Ban giám đốc đơn vị cam kết rằng mọi nghiệp vụ kinh tế phát sinh có liên quan tới đơn vị đều đc ghi nhận đầy đủ và ko bỏ xót.
+ Cơ sở dẫn liệu về sự đo lường và đánh giá. BGĐ đơn vị cam kết rằng, mọi tài sản,mọi khoản công nợ đều đc ghi chép theo đúng giá trị thích hợp trên cơ sở chuẩn mực và chế độ kế toán hiện hành.
+ Cơ sở dẫn liệu về trình bày và công bố: BGĐ đơn vị cam kết rằng, mọi khoản mục trên báo cáo tài chính đều phù hợp với chuẩn mực kế toán và nguyên tắc kế toán.
+ Cơ sở dẫn liệu về quyền và nghĩa vụ: BGĐ đơn vị cam kết rằng, mọi tài sản đều thuộc quyền của đơn vị, mọi khoản công nợ của đơn vị đều thuộc trách nhiệm của đơn vị phải trả.
+ Cơ sở dẫn liệu về tính chính xác cơ học: BGĐ đơn vị cam kết rằng, mọi nghiệp kinh tế phát sinh đều đc ghi chép theo đúng giá trị, đúng về toán học, các phép cộng dồn chuyển sổ sang trang là đúng.
* Bằng chứng kiểm toán:
- KN: Là all các thông tin, tài liệu do kiểm toán viên thu thập đc trong quá trình kiểm toán, làm căn cứ cơ sở cho việc hình thành ý kiến kiểm toán.
- Phân loại : theo 2 tiêu thức
+ Theo nguồn gốc:
. Bằng chứng kiểm toán do kiểm toán viên tự tính toán lại và khai thác đc.
. Bằng chứng kiểm toán do đơn vị đc kiểm toán cung cấp cho kiểm toán viên.
. Bằng chứng kiểm toán do bên thứ ba cung cấp: thư xác nhận của ngân hàng, đối chiếu số dư công nợ.
+ Theo loại hình: 3 loại
. Bằng chứng kiểm toán dưới dạng văn bản
. Bằng chứng kiểm toán dưới dạng hình ảnh
. Bằng chứng kiểm toán dưới dạng lời nói
- Đánh giá bằng chứng kiểm toán:
+ Đánh giá tính hiệu lực của bằng chứng: Là khái niệm chỉ chất lượng hay độ tin cậy của bằng chứng. Tính hiệu lực đc đánh giá theo nguyên tắc như sau:
. Bằng chứng kiểm toán do kiểm toán viên tự tính toán và khai thác đc có độ tin cậy cao hơn bằng chứng kiểm toán do đơn vị đc kiểm toán cung cấp cho kiểm toán viên.
. Bằng chứng kiểm toán có nguồn gốc ở bên ngoài đơn vị có độ tin cậy cao hơn bên trong đơn vị.
. Bằng chứng kiểm toán có nguồn gốc bên trong đơn vị có giá trị cao hơn khi hệ thống kiểm soát nội bộ hđ có hiệu lực.
. Bằng chứng kiểm toán có độ tin cậy cao hơn khi có nhiều nguồn thông tin cùng xác nhận.
. Bằng chứng kiểm toán dưới dạng văn bản, hình ảnh có độ tin cậy cao hơn bằng chứng kiểm toán bằng lời nói.
+ Đánh giá tính đầy đủ: Là kn chỉ quy mô và số lượng của bằng chứng. Tính đầy đủ của bằng chứng phụ thuộc vào độ tin cậy của bằng chứng và quy mô của các khoản mục.
* Hồ sơ kiểm toán:
- Là all những tài liệu thông tin do kiểm toán viên lập, thu thập, phân loại, sd và lưu trữ liên quan đến 1 đơn vị đc kiểm toán.
- Phân loại:
+ Hồ sơ kiểm toán chung: Là lưu trữ những thông tin chung về đơn vị đc kiểm toán liên quan tới 2 hoặc nhiều năm tài chính.
+ Hồ sơ kiểm toán năm: Là lưu trữ những thông tin tài liệu liên quan tới một cuộc kiểm toán.
- Tác dụng của hồ sơ kiểm toán: Kiểm toán viên phải lập hồ sơ kiểm toán đầy đủ, chi tiết để cho kiểm toán viên khác hoặc người có trách nhiệm kiểm tra đọc sẽ hiểu đc toán bộ về cuộc kiểm toán.
Câu 9: Trình bày phương pháp kiểm toán chứng từ và kiểm toán ngoài chứng từ
* PP kiểm toán chứng từ:
- Kiểm toán cân đối:
+ KN: Là pp dựa trên các quan hệ cân đối kế toán(phương trình kế toán) và các cân đối khác để kiểm toán các quan hệ nội tại của các yếu tố cấu thành QH cân đối đó.
+ Nội dung PP:
. Kiểm toán cân đối tổng quát là việc xem xét mối tương quan của một phương trình kế toán.
. Kiểm toán viên sd nguyên tắc đối ứng tài khoản để xem xét các nghiệp vụ cụ thể do các nghiệp vụ kinh tế phát sinh rất đa dạng và phong phú. Trong khi đó, kiểm toán viên lại không thể kiểm toán đc all các nghiệp vụ. Vì vậy kiểm toán viên sẽ tập trung vào các nghiệp vụ kinh tế có khả năng sai phạm là lớn nhất: các nghiệp vụ phát sinh với số tiền lớn, các nghiệp vụ phát sinh ở đầu hoặc cuối mỗi niên độ kế toán.
Tổng phát sinh nợ = Tổng phát sinh có
Số dư cuối kì = số dư đầu kì + phát sinh tăng – phát sinh giảm
+ Điều kiện áp dụng pp cân đối kế toán: Chỉ đc áp dụng đối với những đối tượng kế toán có chứa các mqh cân đối.
- Đối chiếu trực tiếp:
+ KN: là việc so sánh đối chiếu về mặt lượng, trị số của cùng 1 chỉ tiêu trên các loại chứng từ kế toán khác nhau.
+ Các loại đối chiếu trực tiếp:
. Đối chiếu giữa số cuối kì và số đầu kì: Để xem xét sự biến động của một khoản mục nào đó. Từ đó nhận diện rủi ro của nghiệp vụ đấy.
. Đối chiếu giữa số thực hiện với số kế hoạch, dự đoán để đánh giá khả năng hoàn thành kế hoạch.
. Đối chiếu so sánh trị số của cùng 1 chỉ tiêu trên cùng 1 loại chứng từ nhưng đc lưu trữ ở nhiều địa điểm khác nhau ( hóa đơn GTGT , hóa đơn bán hàng).
. Đối chỉ số của chỉ tiêu tổng thể với các yếu tố cấu thành.
. Đối chiếu trị số của cùng một chỉ tiêu ở cùng một thời điểm nhưng lại đc phản ánh trên nhiều loại chứng từ khác nhau.
. Đối chiếu trị số của cùng 1 chỉ tiêu với số bình quân nghành hoặc với đơn vị cùng nghành, cùng quy mô để đánh giá và xem xét vị trí của đơn vị hay của DN.
+ ĐK áp dụng: PP đối chiếu trực tiếp chỉ đc áp dụng trong trường hợp các chỉ tiêu đưa ra so sánh, đối chiếu phải thống nhất về pp tính, về đơn vị tính và cùng trong một khoảng thời gian.
- Đối chiếu logic:
+ KN: Là việc so sánh đối chiếu trị số của các chỉ tiêu có mqh kinh tế trực tiếp song lại có mức biến động là khác nhau.
+ ĐK áp dụng: đc áp dụng khi kiểm toán viên phải hiểu rõ đc bản chất của các mqh.
* Các PP kiểm toán ngoài chứng từ:
- Kiểm kê:
+ KN: Là pp kiểm tra tại chỗ các loại tài sản trong kho và trong két nhằm cung cấp các bằng chứng về sự tồn tại, về thực trạng của tài sản, về số lượng và cũng có thể là giá trị của tài sản.
+ Các bước tiến hành kiểm kê:
B1: Chuẩn bị kiểm kê, XĐ thời gian, xđ phạm vi kiểm kê, chuẩn bị các đk vật chất phục vụ cho cuộc kiểm kê.
B2: Thực hiện kiểm kê. Tiến hành ghi chép các mã hàng hay từng lô hàng.
B3: Kết thúc kiểm kê. Lập báo cáo kiểm kê, xử lí các vấn đề phát sinh.
- Thực nghiệm:
+ KN: Là pp diễn lại hay nghiên cứu phân tích yếu tố cấu thành của 1 tài sản, 1 quá trình đã có, đã diễn ra và cần đc xác minh lại.
+ PP này thường đc sd để đánh giá trong việc xác định mức.
+ PP này rất tốt đối với công việc kiểm toán nhưng không phải lúc nào cũng áp dụng đc vì nó còn phụ thuộc vào thời gian, kinh phí, kĩ thuật của cuộc kiểm toán nên pp này còn tồn tại nhiều hạn chế.
- Điều tra:
+ KN: Là pp xác định nguồn tài liệu 1 thực trạng để đi đến quyết định hoặc kết luận cho một cuộc kiểm toán.
+ Các pp điều tra: Ngoài việc gửi thư xác nhận thì còn sd pp phỏng vấn quan sát. PP này ddc áp dụng phổ biến trong kiểm toán. PP này đc thực hiện trong những trường hợp sau:
. Tìm hiểu khách thể kiểm toán
. Tiếp cận với các bên có liên quan
. Xác minh bằng văn bản thông qua thư xác nhận
. Chọn mẫu hoặc chọn điển hình các đối tượng kiểm toán.
Kết luận: Kiểm toán có đối tượng riêng và pp riêng độc lập.
Câu 10: Trình bày các phương pháp chọn mẫu?
KN: Chọn mẫu kiểm toán là việc lựa chọn 1 số phần tử gọi là mẫu từ 1 tập hợp các phần tử gọi là tổng thể và sd các đặc trưng của mẫu để rút ra suy đoán cho đặc trưng của toàn bộ tổng thể.
* Chọn mẫu ngẫu nhiên (chọn xác suất): Là pp chọn khách quan theo đúng những pp xác định nhằm bảo đảm mọi phần tử của tổng thể đều có khả năng như nhau trong việc hình thành mẫu chọn.
Các pp chọn mẫu ngẫu nhiên bao gồm: Dựa vào bảng ngẫu nhiên, chương trình máy tính và chọn hệ thống.
- Quy trình sd bảng số ngẫu nhiên: Là các con số đc trình bày theo hàng, cột dưới dạng số có 5 chữ số, giữa các chữ số không có mqh với nhau.
B1: Định lượng đối tượng kiểm toán bằng con số duy nhất: gán cho mỗi tổng thể 1 số báo danh (Lưu ý: nên tận dụng các con số có liên quan đến phần tử).
B2: Thiết lập mqh giữa các con số, giữa số ngẫu nhiên với số định lượng cho đối tượng kiểm toán. Có 3 trường hợp:
+ Con số định lượng cho đối tượng kiểm toán có 5 chữ số. MQH 1 – 1
+ MQH giữa các con số định lượng cho đối tượng kiểm toán < 5 chữ số: Bỏ xót chữ số trong số ngẫu nhiên đc chọn để đc số ngẫu nhiên = với chữ số của con số định lượng cho đối tượng kiểm toán.
+ Con số định lượng cho đối tượng kiểm toán > 5 chữ số: Kiểm toán viên phải xác định cột chủ là cột lấy đủ 5 chữ số và cột phụ là cột lấy thêm chữ số cấn thiết ghép với con số ngẫu nhiên của cột chủ để đc ngẫu nhiên có số = với số chữ số của con số định lượng cho đối tượng kiểm toán.
B3: Lập hành trình sd bảng. Kiểm toán viên xđ hướng đi của việc chọn ngẫu nhiên là theo hàng hay theo cột (xuôi hay ngược, từ trái đến phải hay từ phải sang trái).
+ Chọn theo hàng, bắt đầu từ đầu hàng.
+ Chọn theo hàng, bắt đầu từ cuối hàng.
+ Chọn theo cột từ trên xg, hết cột này đến cột kia.
B4: Chọn điểm xuất phát: ĐC chọn một cách ngẫu nhiên, đây là điểm bắt đầu của cuộc hành trình sd bảng. Lưu ý chọn mẫu có 2 trường hợp:
+ Chọn mẫu lặp: 1 phần tử đc phép xuất hiện lần thứ 2 trở đi trong mẫu, mẫu lặp ít đc sd là do số phần tử khảo sát thực tế giảm xg.
+ Chọn mẫu không lặp: 1 phần tử ko đc phép xuất hiện lần thứ 2 trong mẫu.
- Chọn mẫu ngẫu nhiên theo chương trình máy tính: Kiểm toán viên sd chương trình máy tính để chọn mẫu. Cơ sở của viết chương trình chọn mẫu là sd bảng số ngẫu nhiên.
- Chọn mẫu hệ thống: Là chọn các phần tử cách nhau 1 khoảng xác định trước.
B1: Xác định khoảng cách mẫu
K=(Số phần tử của tổng thể) / (Số phần tử mong muốn của mẫu (cơ mẫu)) (lấy phần nguyên).
B2: Chọn điểm xuất phát. Chọn ngẫu nhiên trong K phần tử đầu tiên.
B3: Chọn cụ thể kể từ điểm xuất phát cứ cách K phần tử ta lại chọn 1 phần tử.
Nhận xét: Dễ làm, không phải đánh số lại các phần tử của tổng thể. Tuy nhiên mẫu dễ bị thiên lệch nếu các phần tử mẫu ko đc sắp xếp ngẫu nhiên.
Lưu ý: Để tăng tính đại diện cho mẫu, kiểm toán viên có thể chọn nhiều điểm xuất phát. Khi đó khoảng cách mẫu đc điều chỉnh bằng cách lấy khoảng cách mẫu hiện tại nhân với số điểm xuất phát.
* PP chọn mẫu phi xác xuất: Các phần tử ko có cơ hội như nhau để đc lựa chọn vào mẫu kiểm toán viên dựa vào nhận định nhà nghề để nhận xét và quyết định chọn phần tử nào.
- Chọn mẫu theo khối(theo lô): Là việc chọn một tập hợp các phần tử kế tiếp nhau trong 1 tổng thể. Do đó việc xác định các mẫu cụ thể cần chú ý đến trường hợp thay đổi hệ thống kế toán và chính sách thuế, tính thời vụ của nghành kinh doanh.
- Chọn mẫu theo nhận định của kiểm toán viên:
+ Đây là pp chọn mẫu kiểm toán viên tiến hành hoàn toàn dựa vào nhận định, sự xét đoán của bản thân kiểm toán viên.
+ ĐK áp dụng: Trong trường hợp kiểm toán viên phải có am hiểu tốt về nghiệp vụ của khách hàng và phải tiến hành phân tích chúng kĩ lưỡng.
+ PP này có chi phí thấp nhưng rủi ro kiểm toán có thể rất lớn nếu bản thân kiểm toán viên không nhận định đc mẫu điển hình.
+ Khi thực hiện chọn mẫu, kiểm toán viên thường tập trung chú ý tới việc phân bổ mẫu chọn theo 3 hướng:
. Theo loại nghiệp vụ kinh tế chủ yếu
. Theo quy mô: Những khoản mục có số tiền lớn vào 1 mẫu.
. Theo phần việc do các nhân viên khác nhau phụ trách.
Câu 11: Trình bày chuẩn bị kiểm toán, thực hành kiểm toán và kết thúc kiểm toán?
* Chuẩn bị kiểm toán: Mục tiêu và trình tự tổ chức kiểm toán
B1: Xác định mục tiêu và phạm vi kiểm toán. Mục tiêu kiểm toán là đích cần đạt tới và là thước đo kết quả kiểm toán cho từng cuộc kiểm toán cụ thể, phạm vi kiểm toán là sự giới hạn về ko gian và thời gian của đối tượng kiểm toán và thường đc xđ đồng thời với mục tiêu kiểm toán. Đây là 1 hướng cụ thể hóa mục tiêu kiểm toán.
B2: Bố trí nhân sự và chuẩn bị đk cần thiết. Bố trí nhân sự là chỉ định ra người phụ trách cuộc kiểm toán(tùy thuộc vào mục tiêu, phạm vi và bản chất của cuộc kiểm toán). Chuẩn bị đk cần thiết, các phương tiện vật chất, thiết bị và các đk phù hợp với đối tượng kiểm toán như phương tiện kiểm kê.
B3: Thu thập thông tin. Mục đích giúp kiểm toán viên đưa ra các hướng quyết định về kiểm toán mà chưa đặt ra ,mục tiêu thu thập bằng chứng kiểm toán cho kết luận kiểm toán. Các thông tin cần thu thập:
- Các nghị quyết, văn bản có liên quan đến khách thể kiểm toán và đối tượng kiểm toán.
- Các kế hoạch dự đoán và dự báo có liên quan.
- Các báo cáo kiểm toán lần trước, các biên bản kiểm kê hoặc xử lí các vụ đã xong trong khi kiểm toán.
- Các tài liệu liên quan.
B4 : Lập kế hoạch kiểm toán là quá trình cân đối tích cực nhu cầu và nguồn lực đã có. Lập kế hoạch kiểm toán bao gồm :
- Xác định mục tiêu công việc : Cụ thể hóa, chính xác hóa các mục tiêu và phạm vi kiểm toán
- Xác định bởi thời gian thực hiện công việc kiểm toán
- Xác định số người thực hiện công việc kiểm toán
- Xác định chi phí thực hiện công việc kiểm toán( đặc biệt áp dụng với kiểm toán độc).
B5 : Xây dựng phương trình kiểm toán(XD kế hoạch kiểm toán chi tiết) là việc xác định số lượng và thứ tự các bước kể từ thời điểm bắt đầu đến khi kết thúc cuộc kiểm toán. Việc lập kế hoạch kiểm toán chi tiết yêu cầu xác định rõ : Việc lựa chọn các trình tự kiểm toán và các thủ tục kiểm toán áp dụng đối với từng bộ phận và khoản mục cần kiểm toán.
* Thực hành kiểm toán : Là quá trình thực hiện đồng bộ các công việc đã ấn định trong kế hoạch, chương trình kiểm toán. Kiểm toán viên cần phải tôn trọng 4 nguyên tắc :
- Tuyệt đối tuân thủ chương trình kiểm toán đã đc xây dựng, trong mọi trường hợp kiểm toán không đc tự ý thay đổi chương trình.
- Trong quá trình kiểm toán, kiểm toán viên phải thường xuyên ghi chép những nhận định về các nghiệp vụ, các con số…nhằm tích lũy nhứng bằng chứng cho kết luận của kiểm toán.
- Định kì tông hợp kết quả kiểm toán trên các bảng tổng hợp.
- Mọi điều chỉnh về nội dung, phạm vi, trình tự kiểm toán… đều phải có ý kiến thống nhất giữa chủ thể và khách thể kiểm toán.
* Kết thúc kiểm toán : Kiểm toán viên cần đưa ra kết luận kiểm toán về đối tượng kiểm toán và lập báo cáo hay biên bản kiểm toán. Kết luận kiểm toán là sự khái quát kết quả thực hiện các chức năng của cuộc kiểm toán trong từng cuộc kiểm toán cụ thể. Kết luận kiểm toán phải đảm bảo yêu cầu sau :
- Về nội dung : Kết luận kiểm toán phải phù hợp đầy đủ.
- Tính pháp lí của kết luận kiểm toán.
* Hình thức của kết luận báo cáo kiểm toán
- Báo cáo kiểm toán đc sd trong kế toán tài chính
- Biên bản kiểm toán : Thường đc sd trong kiểm toán nội bộ. Báo cáo kiểm toán đc phát hành dưới 1 trong 4 hình thức sau :
+ Ý kiến chấp nhận hoàn toàn đc sd trong trường hợp kiểm toán viên và DN kiểm toán cho rằng báo cáo tài chinhscuar đơn vị đã phản ánh trung thực và hợp lí xét trên những khía cạnh trọng yếu tình hình tài chính của đơn vị.
+ Ý kiến chấp nhận từng phần(ý kiến loại trừ) đc sd trong trường hợp kiểm toán viên chỉ ra đc 1 hoặc 1 số sai phạm trọng yếu liên quan tới 1 hay 1 số khoản mục hoặc tồn tại sự bất đồng chưa đc sử lí cho tới thời điểm lập báo cáo kiểm toán giữa kiểm toán viên và ban giám đốc đơn vị đc kiểm toán.
+ Ý kiến bác bỏ(ý kiến trái ngược) đc sd trong TH kiểm toán viên và DN kiểm toán chỉ ra đc các sai phạm trọng yếu liên quan tới 1 số khoản mục lớn tới mức kiểm toán viên cho rằng ý kiến chấp nhận từng phần là chưa đủ để thể hiện tính chất và mức độ sai phạm.
+ Ý kiến từ chối đưa ra ý kiến : ĐC sd trong TH kiểm toán viên bị giới hạn bởi các yếu tố khách quan liên quan tới 1 số các khoản mục liên tới mức kiểm toán viên không thu thập đc đầy đủ các bằng chứng phục vụ cho việc đưa ra các ý kiến.
Chú ý : Trong TH kiểm toán viên đưa ra ý kiến loại trừ, bác bỏ hoặc ý kiến từ chối thì kiểm toán viên cần nêu rõ lí do và các bằng chứng kèm theo.
Câu 12 : Trình bày khái niệm chuẩn mực, hình thức chuẩn mực và GAAS
* Chuẩn mực kiểm toán : Là những quy phạm pháp lí, là thước đo chung của chất lượng công việc kiểm toán và dùng để điều tiết hành vi của kiểm toán viên và các bên hữu quan theo hướng và mục tiêu đã định.
* Hình thức biểu hiện của chuẩn mực kiểm toán : Luật kiểm toán. Hệ thống chuẩn mực kiểm toán về nghề nghiệp sd trong kiểm toán tài chính.
* GAAS (nhóm chuẩn mực kiểm toán đc chấp nhận phổ biến) gồm 3 nhóm :
- Nhóm chuẩn mực chung
+ Việc kiểm toán phải do 1 người hoặc 1 nhóm người đc đào tạo nghiệp vụ tương xứng và thành thạo nhử một kiểm toán viên thực thụ thực hiện.
+ Trong tất cả các vấn đề liên quan tới cuộc kiểm toán, kiểm toán viên phải giữ một thái độ độc lập.
+ Kiểm toán viên phải duy trì sự thận trọng nghề nghiệp đúng mực trong suốt cuộc kiểm toán( lập kê hoạch, thực hiện kiểm toán và lập báo cáo kiểm toán)
- Nhóm chuẩn mực thực hành :
+ Phải lập kế hoạch chu đáo cho cuộc kiểm toán và giám sát chặt chẽ những người giúp việc nếu có.
+ Phải hiểu biết đầy đủ về hệ thống kiểm soát nội bộ để lập kế hoạch kiểm toán và xác định nội dung, thời gian, quy mô của các cuộc thử nghiệm sẽ thực hiện.
+ Phải thu đc đầy đủ bằng chứng có hiệu lực thông qua việc kiểm tra, quan sát, thẩm vấn và xác nhận để đc những cơ sở pháp lí cho ý kiến về báo cáo tài chính đc kiểm toán.
- Nhóm chuẩn mực báo cáo
+ Báo cáo kiểm toán phải xác nhận bản khai tài chính có đc trình bày phù hợp với những nguyên tắc kế toán đc chấp nhận rộng rãi hay không.
+ Báo cáo kiểm toán phải chỉ ra những TH không nhất quán về nguyên tắc giữa kì này với kì trước.
+ Phải xem xét các báo cáo trên bảng khai tài chính có đầy đủ một cách hợp lí không trừ những TH khác đc chỉ ra trong báo cáo.
+ Phải đưa ra ý kiến về toàn bộ bảng khai tài chính hoặc khẳng định không thể đưa ra ý kiến đc kèm theo nêu rõ ý kiến.
II. Bài tập :
Subscribe to:
Comments (Atom)