Wednesday, July 29, 2020

Hiểu dúng và dầy đủ về tài chính công, tài sản công: Đối tượng của Kiểm toán Nhà nước




Hiểu đúng và đầy đủ về tài chính công, tài sản công: Đối tượng của Kiểm toán Nhà nước


Hiến pháp 2013 và Luật Kiểm toán Nhà nước 2015 chế định: Chức năng của Kiểm toán Nhà nước (KTNN) theo luật định là Kiểm tra, đánh giá,  xác nhận, kết luận và kiến nghị đối với việc quản lý sử dụng tài chính công (TCC), tài sản công. Với chức năng này, đối tượng của KTNN là việc quản lý và sử dụng TCC, tài sản công và các hoạt động có liên quan đến việc quản lý, sử dụng TCC, tài sản công.

TCC, tài sản công là những thuật ngữ mới xuất hiện ở Việt Nam. Hiểu cho đúng bản chất nội hàm của TCC, tài sản công sẽ là căn cứ xác định đúng và đầy đủ nghĩa vụ, quyền của KTNN. Bởi lẽ công - tư, khu vực công - khu vực tư chưa có sự rạch ròi, thậm chí còn hiểu nhầm, nhận thức sai. Vì vậy, gần đây có chuyện về các dự án BOT, có cơ quan nhà nước bằng văn bản đã khẳng định rằng dự án BOT không phải đầu tư công và công trình đầu tư theo hình thức BOT thuộc sở hữu của nhà đầu tư. Thật không ổn một chút nào và rất tiếc đây lại là ý kiến chính thức bằng văn bản của một cơ quan quản lý Nhà nước về đầu tư. Cần một sự mổ xẻ và lý giải một cách thật sự nghiêm túc không chỉ về mặt luật pháp mà cả sự nhận thức của xã hội, của cá nhân và tổ chức quản lý Nhà nước.

Đối với Việt Nam, kiểm toán nói chung và KTNN nói riêng là một định chế mới, với tư cách một hoạt động chuyên nghiệp, một công cụ kiểm tra, kiểm soát trong nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Vấn đề được đưa vào Hiến pháp và Luật Kiểm toán lần này là thuật ngữ TCC, tài sản công - đối tượng của KTNN cần được hiểu cho đúng.

Về TCC: Trong Luật KTNN 2015. Điều 3 giải thích từ ngữ không nêu định nghĩa về những thuật ngữ này mà chỉ quy định: “TCC bao gồm: Ngân sách Nhà nước, dự trữ quốc gia, các quỹ tài chính Nhà nước (TCNN) ngoài ngân sách. Tài chính các cơ quan Nhà nước, đơn vị vũ trang nhân dân, đơn vị sự nghiệp công lập, đơn vị cung cấp dịch vụ, hàng hóa công, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp có sử dụng kinh phí, ngân quỹ Nhà nước; phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp, các khoản nợ công. Đối tượng của KTNN là việc quản lý, sử dụng TCC có nghĩa là KTNN có nghĩa vụ kiểm tra đánh giá và xác nhận tất cả TCC bao gồm cả việc huy động, tập trung, phân phối và sử dụng TCC, tất cả các đối tượng quản lý và sử dụng TCC. Tất nhiên, trong nhiều năm nay và ngay cả trong Hiến pháp và một số Luật kinh tế của Việt Nam ngoài thuật ngữ TCC còn đề cập tới thuật ngữ tài chính quốc gia, TCNN. Đây là những phạm trù không hoàn toàn đồng nhất, TCNN là nguồn lực của đất nước, của nhân dân, do nhân dân đóng góp và được phân bổ, sử dụng công khai phục vụ lợi ích của nhân dân, của đất nước. Cần thống nhất về nhận thức, hiểu rõ, chính xác  và đầy đủ về Tài chính, tài chính quốc gia, TCNN. TCNN thuộc sở hữu toàn dân, không hoàn toàn đồng nhất với TCC hay TSC (Public finances).

Về nguyên tắc và thông lệ trên thế giới, KTNN có quyền và trách nhiệm kiểm tra, đánh giá mọi nguồn lực TCNN. Vấn đề chỉ là phương thức và mức độ thực hiện kiểm toán. Khi xây dựng Luật Kiểm toán cũng có không ít ý kiến cho rằng: Đối tượng kiểm toán của KTNN quá rộng, có nên bao gồm các đơn vị và cá nhân có nghĩa vụ nộp thuế, nộp phí cho Nhà nước không, có bao gồm các phần vốn Nhà nước ở các công ty cổ phần mà ở đó Nhà nước không nắm giữ cổ phần chi phối, có bao gồm các khoản vốn, kinh phí của Nhà nước ký quỹ, ký cược, đóng góp cho các tổ chức trong nước và ở nước ngoài... Cần nhận thức rằng, KTNN phải quan tâm và tổ chức các hoạt động kiểm toán ở bất cứ đâu có TCNN, dù một đồng. Vì đó là tiền của dân, của nước - thuộc sở hữu toàn dân.

Về tài sản công: Khoản 11, Điều 3, Luật KTNN quy định: Tài sản công bao gồm: Đất đai, tài nguyên nước, tài nguyên khoáng sản, nguồn lợi vùng biển, vùng trời, tài nguyên thiên nhiên khác, tài sản Nhà nước tại cơ quan Nhà nước, đơn vị vũ trang nhân dân, đơn vị sự nghiệp công lập, tổ chức chính trị, chính trị - xã hội, xã hội, xã hội - nghề nghiệp; tài sản công được giao cho các các doanh nghiệp quản lý và sử dụng, tài sản dự trữ Nhà nước, tài sản thuộc kết cấu hạ tầng phục vụ lợi ích công cộng và các tài sản khác do Nhà nước đầu tư, quản lý thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý. Liệt kê như vậy về cơ bản, phù hợp với quy định của Liên hợp quốc (UNDP), mặc dù rời rạc và chưa đầy đủ về nội hàm tài sản quốc gia. Thuật ngữ tài sản công mới xuất hiện ở Việt Nam. Có ý kiến từ cơ quan Nhà nước cho rằng:

- Các dự án BOT... không sử dụng kinh phí, ngân quỹ Nhà nước... mà do nhà đầu tư tự thu xếp vốn. Do vậy, BOT không phải là TCC.

- Công trình BOT là tài sản thuộc kết cấu hạ tầng phục vụ lợi ích công cộng nhưng không phải do Nhà nước đầu tư, quản lý... Nhà đầu tư chịu trách nhiệm thu xếp nguồn vốn để xây dựng và được quyền sở hữu, kinh doanh, quản lý công trình đó trong thời gian nhất định. Do vậy, công trình BOT không phải là tài sản công như quy định tại Điều 3 của Luật KTNN.

Hiểu như vậy thật là nguy hiểm. Đã có sự nhầm lẫn nghiêm trọng giữa quyền sở hữu và quyền quản lý sử dụng.

Trước hết, cần khẳng định dự án đầu tư theo hình thức hợp đồng BOT là lĩnh vực, là hoạt động đầu tư của Nhà nước, là đầu tư công. Không thể cho đây là đầu tư của doanh nghiệp hay của nhà đầu tư. BOT là dự án xây dựng công trình kết cấu hạ tầng do Nhà nước quyết định trên đất đai thuộc sở hữu toàn dân, phục vụ nhân dân và thuộc trách nhiệm Nhà nước. Do nguồn lực Nhà nước có hạn và cũng để huy động năng lực của nền kinh tế, Nhà nước áp dụng hình thức Hợp đồng xây dựng - kinh doanh - chuyển giao, theo đó hợp đồng được ký kết giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền và nhà đầu tư để xây dựng công trình kết cấu hạ tầng. Nhà đầu tư chịu trách nhiệm thu xếp vốn, bỏ vốn và khi công trình hoàn thành, theo thỏa thuận, nhà đầu tư được quyền kinh doanh công trình trong một thời hạn nhất định. Hết thời hạn kinh doanh theo hợp đồng, nhà đầu tư chuyển giao công trình cho Nhà nước. Mặc dù dự án BOT do nhà đầu tư bỏ vốn, tổ chức thi công, quản lý và kinh doanh có thời hạn, nhưng phải xây dựng trong thời hạn, đảm bảo chất lượng, tiêu chuẩn kỹ thuật và chi phí theo thỏa thuận ghi trong hợp đồng BOT. Nhà nước với tư cách là chủ đầu tư, là cơ quan quản lý tính toán, xem xét và thỏa thuận các điều khoản trong hợp đồng BOT, giám sát và kiểm tra quá trình thực hiện dự án theo hợp đồng và nhà đầu tư được Nhà nước dành cho quyền kinh doanh công trình trong một thời gian nhất định để thu hồi vốn đầu tư và lợi nhuận.

Thứ hai, Cần khẳng định công trình kết cấu hạ tầng được hình thành từ hợp đồng BOT là tài sản công, tài sản Nhà nước, thuộc sở hữu toàn dân chứ không phải tài sản thuộc sở hữu của nhà đầu tư. Nhà đầu tư không có quyền sở hữu tài sản này. Không được nhầm lẫn giữa quyền sở hữu và quyền quản lý, kinh doanh. Nhà nước không trực tiếp trả hay thanh toán kinh phí cho nhà đầu tư. Quyền của nhà đầu tư là quản lý, kinh doanh trong một thời gian nhất định được Nhà nước dành cho để thu hồi vốn đầu tư và lợi nhuận. Việc kinh doanh phải tuân thủ Luật pháp và theo những điều kiện về thu nhập, thời gian trên cơ sở thống nhất với các cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Quyền sở hữu tài sản (công trình) là toàn dân mà Nhà nước là đại diện chủ sở hữu.

Với khẳng định các dự án BOT là hoạt động đầu tư công, tài sản hình thành từ hợp đồng BOT là tài sản công - tài sản Nhà nước thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước là đại diện chủ sở hữu, KTNN cần xác định rõ trách nhiệm trong việc kiểm toán, đánh giá và xác nhận tính kinh tế, tính hiệu quả cũng như tính tuân thủ của Nhà nước, của nhà đầu tư trong quá trình thực hiện dự án BOT, quản lý, khai thác và kinh doanh các công trình kết cấu hạ tầng. Theo quy định của Luật, KTNN không chỉ kiểm toán việc quản lý và sử dụng TCC, tài sản công mà phải kiểm tra đánh giá tất cả các hoạt động liên quan đến việc quản lý, sử dụng tài sản công, TCC. Đồng thời, thông qua kiểm toán có kiến nghị và tư vấn cho Quốc hội, Chính phủ trong việc sử dụng các hình thức đầu tư, cơ chế quản lý đầu tư sao cho hiệu quả, kỷ cương, kỷ luật, đảm bảo nền tài chính quốc gia lành mạnh, tài sản quốc gia được an toàn, sử dụng có hiệu quả, tài chính tài sản được kiểm kê, kiểm soát, minh bạch, công khai vì lợi ích của nhân dân, của đất nước. Đó cũng là kỳ vọng của nhân dân về KTNN./.

Theo Tạp chí Kế toán & Kiểm toán – Bài của PGS.TS Đặng Văn Thanh, Chủ tịch Hội Kế toán và Kiểm toán Việt Nam





Tuesday, July 14, 2020

Kiểm toán nhà nước: Vấn dề dặt ra trong công tác cán bộ hiện nay


https://www.sav.gov.vn/Pages/chi-tiet-tin.aspx?ItemID=37808&l=TinTucSuKien


Kiểm toán nhà nước: Vấn đề đặt ra trong công tác cán bộ hiện nay

14/07/2020

(sav.gov.vn) - Những năm qua, Đảng bộ Kiểm toán nhà nước (KTNN) đã thường xuyên quan tâm đến công tác cán bộ, xây dựng đội ngũ cán bộ ngày càng lớn mạnh. Ban cán sự, Ban thường vụ đã ban hành nhiều Nghị quyết, chuyên đề, đồng bộ hệ thống quy chế, quy trình công tác cán bộ; đồng thời phát huy tinh thần trách nhiệm của các tổ chức trong hệ thống chính trị.    
Công tác cán bộ, xây dựng đội ngũ luôn được Đảng bộ KTNN quan tâm
Với nhiều giải pháp thực hiện có tính đột phá, quyết tâm cao trong công tác cán bộ của ngành KTNN, trong thời gian qua, công tác cán bộ và đội ngũ cán bộ của KTNN có nhiều chuyển biến tích cực; trình độ chuyên môn, tác phong, đạo đức, trình độ lý luận chính trị của đội ngũ cán bộ được nâng cao. Đến nay, toàn ngành KTNN có 5 Giáo sư, Phó Giáo sư; 65 Tiến sỹ, 893 Thạc sỹ, nhiều nghiên cứu sinh, nhiều người có chứng chỉ kiểm toán quốc tế, ACCA, ACCF… 100% công chức, viên chức có 1 bằng đại học, có nhiều người có 2 bằng đại học trở lên; 174 cán bộ tốt nghiệp Thạc sỹ ở nước ngoài. Cơ cấu cán bộ hợp lý, lực lượng trẻ được đào tạo cơ bản; khoảng 1.200 người tuổi đời dưới 32 tuổi, chiếm 50% lực lượng lao động trong toàn Ngành.
        
Có thể nói, phẩm chất, năng lực cán bộ là chìa khóa quyết định sự lớn mạnh, uy tín, chuyên nghiệp của một ngành. Nhờ chăm lo công tác cán bộ, lựa chọn, tiếp nhận cán bộ có tài năng, đức độ, thông qua công tác thi tuyển công chức công khai, nên KTNN đã chọn được cán bộ giỏi, cán bộ trẻ cho ngành. Năng lực cán bộ chính là giải pháp quan trọng để ngành KTNN gặt hái được nhiều thành công trong những năm qua; xứng đáng là công cụ hữu hiệu của Đảng và Nhà nước trong công tác quản lý sử dụng hiệu quả nguồn lực công và phòng, chống tham nhũng.

Ngành KTNN những năm qua đã đổi mới mạnh mẽ về phương pháp kiểm toán, quản lý hoạt động kiểm toán, ứng dụng công nghệ mới, công nghệ thông tin vào hoạt động kiểm toán; mở rộng, tăng cường kiểm toán hoạt động, kiểm toán đất đai, dự án khoáng sản, môi trường và CNTT thu được nhiều kết quả tốt. Để đạt được kết quả trên phần lớn nhờ đổi mới công tác cán bộ, từ bố trí, đề bạt, tuyển dụng, đào tạo, đào tạo lại, luân chuyển cán bộ, khuyến khích, khen thưởng; siết chặt kỷ luật, kỷ cương, đạo đức công vụ được tiến hành mạnh mẽ, minh bạch.
        
Tuy nhiên, công tác cán bộ và đội ngũ cán bộ ở KTNN còn nổi cộm 1 số vấn đề, như: Công tác quy hoạch cán bộ cấp chiến lược chưa kịp thời; công tác đào tạo, bồi dưỡng chưa đáp ứng yêu cầu thực tế; công tác bố trí, sử dụng cán bộ còn bất cập; tâm lý chọn việc, chọn chỗ, sợ đi vùng sâu, vùng xa vẫn còn.

Nhìn chung, hiện nay có 3 vấn đề đang đặt ra, đòi hỏi sự quan tâm đặc biệt của đảng bộ KTNN đối với cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp thuộc KTNN như sau:

Về tiêu chuẩn cán bộ
        
Thứ nhất, người lãnh đạo phải có bản lĩnh vững vàng, tự tin, nhất quán; có tầm nhìn xa và tính quyết đoán mạnh mẽ; giữ vững quan điểm, lập trường, bản lĩnh kể cả bản lĩnh từ chối, nói “không” với tiêu cực.

Người lãnh đạo phải tự tin, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám dấn thân vào việc khó, vượt qua thử thách thực hiện mục tiêu đã đề ra. Luôn vững vàng, không giao động trước khó khăn, tác động từ bên ngoài, nói đi đôi với làm, từ đó mới tạo được lòng tin và chỗ dựa tinh thần cho cấp dưới. Trong thực tế sẽ không có cán bộ nào muốn làm việc dưới quyền một lãnh đạo thiếu gương mẫu, dễ giao động, hay thay đổi, thiếu tự tin, năng lực chuyên môn yếu kém. Đối với cán bộ lãnh đạo - người được giao giữ trọng trách dù cấp phòng hay cấp Bộ đều thể hiện vai trò đại diện của mình với đơn vị, phải lấy đó làm niềm tự hào, là trách nhiệm mà đảng và nhân dân giao phó. Vì vậy, người lãnh đạo phải là tấm gương, phấn đấu vượt qua mọi khó khăn hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, thấu hiểu cấp dưới, đoàn kết, tạo niềm tin, động lực cho cấp dưới; giữ được tín nhiệm vững bền, sự kính trọng, tin yêu của mọi người.
        
Thứ hai, người lãnh đạo phải có năng lực. Trước hết phải giàu trí tuệ, có năng lực chuyên môn, năng lực thực tiễn, năng lực quản lý; hiểu biết hơn cấp dưới, biết sử dụng tin học, ngoại ngữ, công nghệ mới. Năng lực của người lãnh đạo phải bao gồm cả năng lực dự báo, dự đoán tương lai; năng lực phát hiện, tìm tòi, sáng tạo cái mới, biết khái quát những việc nhỏ hàng ngày để giải quyết vấn đề chung. Năng lực lãnh đạo còn thể hiện qua việc xây dựng chương trình công tác, Nghị quyết, Quyết định thông qua chiến lược, kế hoạch và chỉ đạo thực hiện có hiệu quả; có cách làm việc khoa học, chủ động, dân chủ, phân cấp, phân quyền rõ ràng. Người lãnh đạo không vùi đầu bận rộn công việc sự vụ; tạo môi trường làm việc thân thiện, tốt đẹp, hăng hái trong cống hiến, sáng tạo cho cấp dưới và lan tỏa ra xã hội; cùng tập thể lãnh đạo xây dựng tổ chức bộ máy hoạt động hiệu quả, khi người đứng đầu đi vắng thì bộ máy vẫn hoạt động bình thường.

Năng lực phát hiện, bố trí cán bộ là một tiêu chuẩn quan trọng của người lãnh đạo. Người lãnh đạo phải có năng lực phát hiện người giỏi, bố trí hợp lý vào những việc quan trọng để thử thách, theo dõi, bồi dưỡng, đề bạt tạo nguồn cán bộ lâu dài. Bác Hồ đã từng dạy “Dụng nhân như dụng mộc”, vì vậy người lãnh đạo bố trí cán bộ phải khách quan, đúng đắn, chính xác, có như vậy mới tạo được lòng tin, sự tín nhiệm và lan tỏa động lực phấn đấu cống hiến cho mọi người. Người lãnh đạo còn phải nhanh chóng phát hiện kẻ cơ hội, né tránh, thoái hóa, biến chất… để giáo dục, bồi dưỡng, uốn nắn sử dụng hợp lý. Năng lực người lãnh đạo không những thể hiện tầm nhìn xa mà phải có tính quyết đoán mạnh mẽ, giám đương đầu với mọi thử thách, giao tiếp rộng mở nhưng chặt chẽ, chọn lọc, nắm chắc thông tin phục vụ lãnh đạo điều hành; lấy hiệu quả công việc là thước đo đánh giá người lãnh đạo.
        
Thứ ba, người lãnh đạo phải có tấm lòng nhân hậu, thấu hiểu và thương yêu cấp dưới, có khát vọng cống hiến, phẩm chất trong sáng, kỹ năng lãnh đạo tốt và tác phong gương mẫu. Chính những tố chất này làm nên “uy quyền mềm” của người lãnh đạo. Họ không những thể hiện vai trò là thủ trưởng do Đảng, Nhà nước giao mà còn thể hiện vai trò thủ lĩnh cho chính cấp dưới của mình. Người lãnh đạo phải gương mẫu vì gương mẫu chính là mệnh lệnh không lời; đồng thời, cần có thái độ chân thành, thấu hiểu, chia sẻ và thương yêu cấp dưới, xử sự công bằng để tạo ra niềm tin và sự kính trọng của cấp dưới đối với mình; có phong cách làm việc dân chủ nhưng quyết đoán, sâu sát thực tiễn, gần gũi với quần chúng. Trong giải quyết công việc vừa linh hoạt, sáng tạo, mềm dẻo, kiên quyết, lấy mục tiêu hiệu quả công việc làm trọng. Người lãnh đạo trong đơn vị phải biến khát vọng của mình thành động lực phấn đấu của tập thể, vừa làm tốt công việc của mình được phân công, nhưng cũng phải đào tạo người thay thế mình, sẵn sàng nhận nhiệm vụ được giao, không chạy việc, chọn chỗ, chọn Đoàn kiểm toán… Đối với ngành KTNN, người lãnh đạo ngoài đạo đức, có năng lực chuyên môn cao, có năng lực quản lý điều hành tốt, luôn luôn đổi mới, bản lĩnh vững vàng mới dẫn dắt đơn vị vượt qua khó khăn hoàn thành nhiệm vụ xuất sắc. Hơn lúc nào hết, giai đoạn hiện nay rất cần những người lãnh đạo có tâm, có tầm để xây dựng phát triển đất nước. Do đó, việc phát hiện đánh giá, đào tạo, bố trí, sử dụng, đề bạt cán bộ các đơn vị là hết sức quan trọng và cấp thiết. Đây chính là yếu tố quan trọng làm nên thắng lợi toàn diện ở các đơn vị. Những biểu hiện ba hoa, quan liêu, tham nhũng, vô cảm, yếu kém về năng lực, cá nhân chủ nghĩa đều không phù hợp với chuẩn mực người lãnh đạo trong mọi thời kỳ, đặc biệt là giai đoạn hiện nay.
        
Về cơ cấu cán bộ

Đảng, Nhà nước luôn quan tâm chỉ đạo, hướng dẫn về công tác nhân sự trước các kỳ đại hội Đảng các cấp, đều quy định về cơ cấu cán bộ như: Độ tuổi, giới tính, dân tộc, ngành nghề… nhằm đảm bảo tính kế thừa, chuyển tiếp, phát huy sức mạnh của tập thể. Tuy nhiên, để có cơ cấu cán bộ hợp lý, hiệu quả, đúng quy định là việc không đơn giản, có nơi đã phải vận dụng bố trí đảm bảo cơ cấu trong cấp ủy để có tỷ lệ “ đẹp”. Nhưng bộ máy sau đại hội không mạnh do cơ cấu cán bộ, phẩm chất, năng lực hạn chế, tín nhiệm không cao, làm giảm hiệu quả của quản lý điều hành và làm mất niềm tin của cán bộ, đảng viên trong đơn vị vào sự lãnh đạo của đảng. Vấn đề đặt ra là làm sao để đạt được cơ cấu, đồng thời đảm bảo chất lượng, hiệu quả trong bố trí cán bộ. Muốn vậy, cần quan tâm thực hiện tốt một số vấn đề sau:

Chủ động phát hiện, lựa chọn đưa vào quy hoạch để đào tạo, bồi dưỡng, rèn luyện cán bộ. Việc rèn luyện, thử thách trong thực tiễn, khẳng định bản lĩnh, uy tín và phẩm chất qua thực tế công việc.
        
Để phát hiện được cán bộ có triển vọng, bên cạnh vai trò cơ quan tham mưu về tổ chức cán bộ, còn phải phát huy vai trò của các tổ chức, cá nhân thuộc hệ thống chính trị; thông qua đó tìm được người có phẩm chất, năng lực tốt, triển vọng, được ghi nhận, tín nhiệm của đông đảo cán bộ, đảng viên. Đồng thời, cán bộ công tác ở môi trường khó khăn, môi trường phù hợp chuyên môn, giao việc khó, việc phức tạp để rèn luyện trưởng thành.
        
Quá trình bố trí cán bộ phải đảm bảo nguyên tắc tập trung dân chủ, khách quan, minh bạch không để các mối quan hệ chi phối đến công tác bố trí, đề bạt cán bộ; đồng thời có quy chế quy định trách nhiệm của người giới thiệu cán bộ không tốt vi phạm pháp luật để đảm bảo chọn lọc chính xác khi giới thiệu.
        
Về việc bố trí, sử dụng, đề bạt và chính sách cán bộ
        
Bố trí cán bộ (có thể được hiểu là điều động, phân công, luân chuyển, đề bạt, bổ nhiệm) là khâu quan trọng nhất, có ý nghĩa quyết định trong công tác cán bộ. Bố trí cán bộ trước hết đảm bảo yêu cầu nhiệm vụ của ngành, của đơn vị nhằm tăng sức mạnh, hiệu quả công tác của đơn vị; đồng thời nhằm bồi dưỡng, rèn luyện thử thách cán bộ, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ phân công và thực hiện tốt phòng chống tham nhũng theo quy định Đảng, nhà nước.

Trong những nhiệm kỳ qua, Đảng bộ KTNN đã thực hiện nghiêm túc quy định của Bộ chính trị về công tác cán bộ, đặc biệt là việc bố trí cán bộ chủ trì tại các đơn vị và công tác luân chuyển cán bộ. Đảng bộ KTNN đã ban hành Nghị quyết 36 - NQ/BCS, ngày 6/7/2016, về điều động, luân chuyển cán bộ và thực hiện quyết liệt; đồng thời, kịp thời bố trí cán bộ trẻ, cán bộ có năng lực về các đơn vị để rèn luyện, cọ sát với thực tiễn.

Trong thời gian tới, việc bố trí cán bộ và chính sách cán bộ của KTNN sẽ tập trung vào các vấn đề sau:

Tiếp tục nâng cao chất lượng, hiệu quả bố trí cán bộ; đặc biệt lựa chọn cán bộ phẩm chất, bản lĩnh tốt, năng lực giỏi để giới thiệu vào cấp ủy. Thực hiện việc giao một cán bộ vừa là lãnh đạo cấp ủy vừa là lãnh đạo đơn vị để thống nhất sự lãnh đạo, đặc biệt là cấp trưởng đơn vị.

Kịp thời phát hiện và bố trí lại cán bộ, nhất là cán bộ chủ trì ở những nơi nội bộ mất đoàn kết, thống nhất cộng sự không cao, phong trào trì trệ, hiệu quả công tác thấp. Tăng cường cán bộ trẻ, có năng lực, bản lĩnh, kinh nghiệm về công tác tại các đơn vị, đặc biệt ở các đơn vị vùng xa, vùng khó khăn để rèn luyện.

Sử dụng hợp lý và phát huy vai trò của đội ngũ cán bộ có quá trình công tác và cống hiến nhiều năm, xa gia đình; tạo điều kiện để điều động bố trí nhằm hợp lý hóa gia đình. Quá trình chuẩn bị nhân sự bầu cử cấp ủy, đề bạt các chức danh lãnh đạo đơn vị cần phải chủ động rà soát, tính toán bố trí hợp lý cán bộ nhằm tăng cường sức mạnh cho Ngành, cho đơn vị; đồng thời cần có chính sách hợp lý, phù hợp với số cán bộ không đủ tuổi tái cử.

Khuyến khích cán bộ đổi mới, sáng tạo, áp dụng công nghệ cao, công nghệ thông tin, thông lệ quốc tế vào hoạt động kiểm toán nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động.

Từ thực tiễn công tác cán bộ ở KTNN cho thấy, cần tiếp tục đổi mới, có bước đột phá mạnh mẽ hơn nữa nhằm phát triển ngành KTNN thành cơ quan kiểm toán việc quản lý, sử dụng tài chính, tài sản công có uy tín, trách nhiệm, chuyên nghiệp và hiện đại; là công cụ sắc bén của đảng, nhà nước trong việc quản lý, sử dụng nguồn lực công và phòng, chống tham nhũng./.

TS. Hồ Đức Phớc - Ủy viên BCH TW Đảng, Bí thư Ban cán sự, Bí thư Đảng ủy, Tổng Kiểm toán nhà nước 
 








Saturday, July 4, 2020

Lãnh đạo Kiểm toán nhà nước đối thoại trực tuyến với đoàn viên, thanh niên KTNN


https://www.sav.gov.vn/Pages/chi-tiet-tin.aspx?ItemID=37791&l=TinTucSuKien


Lãnh đạo Kiểm toán nhà nước đối thoại trực tuyến với đoàn viên, thanh niên KTNN

04/07/2020

(sav.gov.vn) - Thiết thực chào mừng Đại hội đại biểu Đảng bộ Kiểm toán nhà nước (KTNN) lần thứ VII, Đại hội đại biểu Đảng bộ khối các cơ quan Trung ương và Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng nhiệm kỳ 2020-2025, được sự đồng ý của Đảng ủy, Lãnh đạo KTNN, chiều 03/7/2020, tại trụ sở KTNN – 116 Nguyễn Chánh, Hà Nội, Đoàn Thanh niên KTNN đã tổ chức Chương trình: Bí thư Đảng ủy, Tổng Kiểm toán nhà nước Hồ Đức Phớc đối thoại trực tuyến với đoàn viên, thanh niên, Chủ đề: "Tuổi trẻ Kiểm toán nhà nước - Tự hào tiến bước dưới cờ Đảng".
Quang cảnh Chương trình đối thoại
Dự Chương trình có Ủy viên BCH TW Đảng, Ủy viên Ban cán sự, Bí thư Đảng ủy, Tổng Kiểm toán nhà nước Hồ Đức Phớc; các Phó Tổng Kiểm toán nhà nước: Đoàn Xuân Tiên, Nguyễn Quang Thành, Vũ Văn Họa, Nguyễn Tuấn Anh; các đồng chí trong Ban Thường vụ Đảng ủy KTNN; đại diện lãnh đạo các đơn vị trực thuộc KTNN, Văn phòng Đảng-Đoàn thể; đại diện các tổ chức chính trị-xã hội KTNN cùng gần 1.000 đoàn viên thanh niên đại diện cho 31 chi đoàn có trụ sở tại Hà Nội và điểm cầu các KTNN khu vực.

Tại buổi đối thoại, đoàn viên thanh niên của KTNN có có dịp chia sẻ những thắc mắc, tâm tư, nguyện vọng với Bí thư Đảng ủy, Tổng Kiểm toán nhà nước, các đồng chí trong Ban cán sự Đảng, lãnh đạo KTNN về các nội dung: Bài học kinh nghiệm về nghề, định hướng phát triển và những cống hiến, đóng góp của thế hệ trẻ hôm nay.

Tuổi trẻ cần rèn luyện, trau dồi và cống hiến hết mình

Chia sẻ với các đoàn viên, thanh niên về kinh nghiệm bản thân trong quá trình phát triển, Phó Tổng Kiểm toán nhà nước Đoàn Xuân Tiên cho biết, thế hệ của ông khác rất nhiều so với thế hệ trẻ hôm nay. "Tuổi trẻ bây giờ có nhiều điều kiện thuận lợi để sáng tạo, cống hiến hơn thế hệ chúng tôi rất nhiều. Nhưng ngược lại, tuổi trẻ thường nóng vội, thiếu kiên trì. Điều này khác hoàn toàn với thế hệ trước đây" - ông Đoàn Xuân Tiên nhận xét.

Vì vậy, theo Phó Tổng Kiểm toán nhà nước, đoàn viên thanh niên trong Ngành KTNN cần không ngừng học hỏi, nắm chắc, hiểu chắc quy định pháp luật liên quan, làm chủ được kiến thức, sự hiểu biết của mình, nhất là những vấn đề liên quan đến công nghệ thông tin trong thời đại Cách mạng công nghệ 4.0. "Kinh nghiệm của tôi là tuổi trẻ làm được gì chúng ta cứ làm, cống hiến hết mình. Đồng thời, không ngừng rèn luyện tính kiên trì, tích lũy kiến thức, trau dồi kỹ năng. Giống như gieo trồng, cây đủ lớn vươn lên rồi thì mới thu hoạch được” - ông Đoàn Xuân Tiên nói.
 


Đồng tình với Phó Tổng Kiểm toán nhà nước Đoàn Xuân Tiên, Tổng Kiểm toán nhà nước Hồ Đức Phớc cho rằng, bản thân luôn tâm niệm, dù làm việc gì cũng luôn phải nỗ lực hết mình, phấn đấu hết mình, không tính toán thiệt hơn. "Khi mình khẳng định được bản thân, có năng lực, đạo đức, người khác sẽ quan tâm đến mình. Không sợ không có chức mà chỉ sợ không có đạo đức, nên các bạn cứ phấn đấu hết mình thì tương lai sẽ tốt lên” - Tổng Kiểm toán nói.

Trả lời các câu hỏi của đoàn viên thanh niên về nội dung “Làm thế nào để vượt qua những sức ép, sự cám dỗ trong nghề nghiệp”, Phó Tổng Kiểm toán nhà nước Nguyễn Quang Thành cho rằng, đoàn viên thanh niên cần phải yêu, phải say nghề thì mới làm được. Muốn làm được nghề, phải nắm thật chắc hệ thống các quy trình chuẩn mực của KTNN, bởi phải thuộc và nhuần nhuyễn chuẩn mực thì mới có hành trang bước vào nghề vững vàng. “Mỗi người có một nhiệm vụ Đảng phân công, đừng thấy nghề của mình được các đơn vị khác quan tâm mà tưởng mình cao sang. Các bạn phải biết đâu là nhiệm vụ, vai trò của mình” - ông Nguyễn Quang Thành nói.

Bên cạnh đó, Phó Tổng Kiểm toán nhà nước cũng lưu ý các đoàn viên, thanh niên trong quá trình làm việc cần phải biết tự răn mình. Khi làm việc, phải khiêm tốn, cần cương quyết trước những sai sót, tham nhũng của đơn vị được kiểm toán.

Về vấn đề này, Tổng Kiểm toán nhà nước cho rằng, giá trị cốt lõi, linh hồn của Ngành KTNN là Độc lập, liêm chính, chính quy, hiện đại và không ngừng gia tăng giá trị. Vì vậy, các cán bộ, Kiểm toán viên của KTNN nói chung và đoàn viên thanh niên của KTNN nói riêng cần xác định đúng đắn vấn đề này để có định hướng cho bản thân trong nghề nghiệp, nỗ lực phấn đấu không ngừng. "Áp lực ai cũng có, nhưng chúng ta phải biết cách vượt qua. Mỗi Kiểm toán viên phải là một tấm gương, là một người chiến sĩ thực hiện lời dạy của Bác Hồ: Khôn khéo, kiên quyết. Các bạn phải giỏi chuyên môn, phân tích có tình, có lý cho đơn vị được kiểm toán, chỗ nào sai phạm lớn phải kiến nghị xử lý, thì sẽ an toàn”, Tổng Kiểm toán nhà nước đưa ra lời khuyên.

Tuyệt đối không lợi dụng việc được Nhà nước giao cho quyền hành để hách dịch

Tại buổi đối thoại, nhiều bạn trẻ cũng băn khoăn về văn hóa công sở của Ngành KTNN có khác gì so với các ngành khác và giá trị cốt lõi của người kiểm toán là gì?
 
Đoàn viên thanh niên đặt câu hỏi cho Lãnh đạo KTNN

Trả lời nội dung này, Phó Tổng Kiểm toán nhà nước Vũ Văn Họa cho rằng, hoạt động kiểm toán của KTNN là hết sức đặc thù, vì vậy, văn hóa công sở của Ngành cũng có những đặc thù riêng, phù hợp với 8 chữ vàng: Công minh, chính trực, nghệ tinh, tâm sáng; ngày càng hoàn thiện giá trị cốt lõi Ngành đã và đang xây dựng, đó là Độc lập, liêm chính, chính quy, hiện đại không ngừng gia tăng giá trị.

Theo Phó Tổng Kiểm toán nhà nước Nguyễn Quang Thành, văn hóa công sở của KTNN còn thể hiện ở việc tuân thủ nghiêm túc hệ thống Chuẩn mực Kiểm toán nhà nước. "Kiểm toán viên luôn nghiêm túc, cương quyết nhưng cần phải khiêm tốn. Đơn vị được kiểm toán làm chưa tốt, phải chỉ ra cho họ, còn họ làm tốt chúng ta cần khích lệ, động viên. Thân thiện, ân cần, trao đổi, thế mới là văn hóa”, Phó Tổng Kiểm toán nhà nước Thành cho hay.

Về nội dung này, Tổng Kiểm toán nhà nước Hồ Đức Phớc nhấn mạnh: Văn hóa công sở của người Kiểm toán viên nhà nước không chỉ thể hiện ở tác phong ăn nói, ăn mặc mà còn thể hiện ở sự đoàn kết, tính đồng đội, sức mạnh tập thể, tính kiên định, chuyên nghiệp, liêm chính, sáng tạo. Theo Tổng Kiểm toán nhà nước, kiểm toán là nghề chuyên ngành sâu, nên Kiểm toán viên Nhà nước phải giỏi hơn những người khác; đồng thời, phải khiêm tốn, tuyệt đối không lợi dụng việc được Nhà nước giao cho quyền hành để hách dịch, mà phải cống hiến, phục vụ cho lợi ích chung.

Không ngừng nâng cao năng lực trình độ trong tình hình mới

Tháo gỡ câu hỏi của đoàn viên thanh niên về việc thực hiện bảo mật thông tin theo quy định tại Luật Bảo vệ bí mật Nhà nước, Phó Tổng Kiểm toán nhà nước Nguyễn Tuấn Anh cho rằng, tất cả các cơ quan, đối tượng đều phải nghiên cứu, tìm hiểu và chấp hành theo quy định của pháp luật. Là một cơ quan đặc thù, việc quản lý, lưu trữ và bảo vệ tài liệu mật đã được KTNN thực hiện từ rất lâu, trước khi Luật Bảo vệ bí mật Nhà nước có hiệu lực, với hệ thống quy trình, quy định cụ thể, chặt chẽ. Việc bảo mật trên môi trường công nghệ thông tin được Lãnh đạo KTNN giao cho Trung tâm Tin học thực hiện thông qua hệ thống máy chủ của Ngành. Vì vậy, các Kiểm toán viên trong quá trình thực hiện công tác chuyên môn, cần thực hiện theo đúng quy định của Ngành về việc quản lý tài liệu theo chế độ mật cũng như thực hiện nghiêm những quy định tại Luật Bảo vệ bí mật nhà nước và Luật Kiểm toán nhà nước sửa đổi.
 


Thông tin thêm về việc bổ sung Quyền khiếu nại tố cáo và khởi kiện quyết định giải quyết khiếu nại trong hoạt động của KTNN trong Luật KTNN sửa đổi năm 2019, Tổng Kiểm toán nhà nước Hồ Đức Phớc cho biết, ngay sau khi Luật được chính thức thông qua, Tổng Kiểm toán nhà nước đã giao vụ Pháp chế, xây dựng quy trình giải quyết khiếu nại và giải quyết tố cáo. Hiện đang lấy ý kiến các đơn vị trong và ngoài ngành, tiếp thu, chỉnh sửa hoàn thiện để ban hành theo đúng trình tự thủ tục.

Tổng Kiểm toán nhà nước nhấn mạnh đây là thách thức lớn đối với KTNN, đòi hỏi phải không ngừng nâng cao chất lượng kiểm toán, bằng chứng kiểm toán phải chính xác. "Xây đến đâu chúng ta phải đắp đến đấy. Cán bộ, công chức, Kiểm toán viên của KTNN nói chung và thế hệ trẻ của KTNN nói riêng cần phải không ngừng nâng cao năng lực trình độ, phương pháp, cách thức làm việc để đáp ứng được yêu cầu của Đảng, Nhà nước và Nhân dân trong tình hình mới" - Tổng Kiểm toán nhà nước yêu cầu./.

M. Thúy







Ngày 01/3, tại Hà Nội, Đoàn Thanh niên Kiểm toán nhà nước (KTNN) thuộc Đoàn khối các cơ quan Trung ương đã tổ chức Tọa đàm trực tuyến về văn hóa công sở, đạo đức nghề nghiệp của kiểm toán viên nhà nước (KTV).

Tổng Kiểm toán nhà nước Hồ Đức Phớc, Chủ tịch Công đoàn KTNN Lê Huy Trọng, PGS.TS Đào Thị Ái Thi đã trao đổi, thảo luận về các nhóm vấn đề liên quan đến văn hóa công sở và đạo đức nghề nghiệp của KTV với đoàn viên thanh

 

Mở đầu của Tọa đàm, bằng lối diễn giải gần gũi, bằng những câu chuyện thực tế đời thường kết hợp với những kinh nghiệm đúc kết trong thực tế cuộc sống cũng như trong quá trình nghiên cứu, PGS. TS. Đào Thị Ái Thi đã giúp các đoàn viên thanh niên dự Tọa đàm hiểu rõ văn hóa công sở được biểu hiện thông qua các chuẩn mực xử sự, nghi thức giao tiếp trong hoạt động công vụ; quan hệ chỉ đạo, phối hợp, ý thức chấp hành kỷ luật trong và ngoài công sở của cán bộ, công chức. Xây dựng văn hóa công sở là xây dựng một nề nếp, phương thức làm việc khoa học, có kỷ cương, dân chủ, giúp cán bộ, công chức nhận thức đúng về chức trách, nhiệm vụ của mình đối với xã hội, đối với nhân dân, hình thành thái độ, lòng yêu nghề, niềm tự hào về nghề nghiệp, từ đó có ý thức làm việc tốt, tận tụy với công việc, có hành vi ứng xử, giao tiếp đúng mực với Nhân dân, với đồng nghiệp...

Trong phần trao đổi tương tác, 3 khách mời: Tổng Kiểm toán nhà nước Hồ Đức Phớc, Chủ tịch Công đoàn KTNN Lê Huy Trọng, PGS.TS Đào Thị Ái Thi và đoàn viên, thanh niên đã trao đổi, thảo luận về các nhóm vấn đề liên quan đến văn hóa công sở và đạo đức nghề nghiệp của KTV. Nhiều câu hỏi, tình huống cụ thể trong hoạt động nghề nghiệp của KTV được đặt ra.

KTV phải giữ được tính độc lập, khách quan và liêm chính

Một trong những vấn đề thu hút sự quan tâm trao đổi của các đại biểu là: Khi thực hiện nhiệm vụ kiểm toán, một số KTV gặp phải tình huống nhận được lời nhờ vả hoặc thậm chí chịu sức ép tác động từ người quen, bạn bè, cấp trên hay người có mối quan hệ thân thiết của đơn vị được kiểm toán nhằm can thiệp hoặc xử lý nhẹ tay các trường hợp vi phạm của đơn vị. Trong trường hợp đó, KTV cần làm gì để đảm bảo không bị ảnh hưởng, tác động, sức ép mà vẫn duy trì được sự hài hòa với các mối quan hệ đó? Nhiều chia sẻ về những lần KTV trải qua tình huống này và cách ứng xử của KTN đã nhận được sự đồng tình của đông đảo đại biểu dự Tọa đàm.

Về vấn đề này, Tổng Kiểm toán nhà nước Hồ Đức Phớc chia sẻ: “Bản thân tôi làm Tổng kiểm toán, tôi cũng chịu nhiều sức ép, ví dụ như bạn bè, anh em, người quen nhờ vả bỏ kết quả này, hoặc giảm nhẹ đi một chút, thậm chí cũng có thể còn nhận được đề nghị quan tâm, cho lên chức trường hợp này, trường hợp kia… Có rất nhiều sức ép diễn ra và mỗi kiểm toán viên chịu sức ép nào thì các sức ép đó đều dồn lên Tổng kiểm toán”.

Tuy nhiên, Tổng kiểm toán nhấn mạnh, cái chúng ta cần là phải giữ được bản lĩnh, giữ được đạo đức nghề nghiệp. Trong từng tình huống, đối tượng tác động, nhờ vả, kiểm toán viên cần phải có một cách xử sự riêng. Chẳng hạn, với bạn bè thân quen thì mình phải giải thích rõ ràng và nói thẳng “không giải quyết được”. Còn nếu cấp trên tác động, nhưng có thể do bản thân họ chưa hiểu nội dung đó như thế nào, nên mình cũng phải giải thích lại. “Tôi tin chắc những người lãnh đạo cấp trên của các bạn không ai lái một kết quả đi sai lệch với kết quả mà chúng ta đã phát hiện và có đầy đủ bằng chứng chắc chắn. Nhưng cũng có những trường hợp chúng ta phát hiện ra một vấn đề nhưng chưa đủ bằng chứng, hoặc góc nhìn của chúng ta chưa đủ cơ sở để kết luận và đánh giá một cách chính xác, thì cấp trên phân tích, chỉ ra để đánh giá, kết luận cho chính xác.

Trong quá trình chịu sự tác động, chúng ta phải giữ được tính độc lập, khách quan. Và điều cơ bản của kiểm toán viên là tính liêm chính, nói phải củ cải phải nghe. Mình làm đến cùng sự thật, thì sự thật vẫn là sự thật. Mỗi chúng ta cần giữ vững bản lĩnh của mình để hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao để mang lại thành tích, uy tín cho ngành KTNN.

Tổng Kiểm toán nhà nước cũng kỳ vọng “chúng tôi luôn mong muốn các bạn trẻ vươn lên, làm đúng quy trình, đúng hướng dẫn của ngành và phải mềm dẻo nhưng kiên quyết để giữ vững kết quả, đánh giá kết luận, kiến nghị để từ đó tạo ra sức lan tỏa, giúp cho việc phát triển kinh tế- xã hội của chúng ta ngày một tốt hơn”.

Với tư cách là lãnh đạo quản lý một đơn vị thực hiện chuyên môn kiểm toán, Chủ tịch Công đoàn KTNN Lê Huy Trọng cũng nhấn mạnh thêm, trong quá trình thực hiện nhiệm vụ kiểm toán, KTV cần thể hiện bản lĩnh của mình, không nên nóng vội mà phải tìm hiểu ý đồ của người đề xuất đó để có hướng xử lý thích hợp. KTV thực hiện kiểm toán theo quy định của pháp luật, không được phép thay đổi nội dung kiểm toán, chịu trách nhiệm về công việc của mình.

KTV cần phải nói năng mạch lạc, có căn cứ, bằng chứng, lý lẽ để tranh luận vấn đề

Liên quan đến câu hỏi các tổ trưởng tổ kiểm toán, KTV trẻ cần lưu ý trong giao tiếp, ứng xử như thế nào để vừa vượt qua được sức ép tuổi tác, đảm bảo tính chiến đấu mà vẫn thể hiện được sự tôn trọng, lịch thiệp với đơn vị được kiểm toán.

Nhiều đoàn viên thanh niên đã trao đổi sôi nổi và cùng quan điểm khi cho rằng, các KTV dù trẻ tuổi hay lớn tuổi thì trong các nhiệm vụ kiểm toán cần nắm vững và tuân thủ nghiêm Luật Kiểm toán, Chuẩn mực KTNN, Quy chế hoạt động của Đoàn kiểm toán, đặc biệt là Quy tắc ứng xử của KTNN; Do vậy trong tình huống này các KTV trẻ tuổi phải hết sức lưu ý trong vấn đề giao tiếp.

Trước hết, phải tôn trọng lãnh đạo quản lý, chấp hành nghiêm các quyết định của tổ trưởng, người quản lý; các KTV  trẻ phải biết lắng nghe; không ngừng trau dồi kỹ năng giao tiếp, trước khi đưa ra thảo luận một vấn đề nào đó thì KTV phải chuẩn bị đầy đủ bằng chứng một cách kỹ lưỡng, thuyết phục, ngắn gọn và luôn thể hiện thái độ tôn trọng, cầu thị, khiêm tốn với người lớn tuổi và lãnh đạo.

Đồng tình với những chia sẻ của đoàn viên thanh niên, PGS,TS. Đào Thị Ái Thi cho rằng, văn hóa công sở có sự khác biệt với các văn hóa khác, vì người khoác áo công chức sẽ là đại diện hình ảnh của Nhà nước nên trong giao tiếp, họ phải có tính tổ chức, tính pháp lý, tính chuẩn mực và ở mối quan hệ nào thì phải có chuẩn mực đạo đức của quan hệ đó.

Chia sẻ về vấn đề này, Tổng Kiểm toán nhà nước Hồ Đức Phớc cho rằng, người công chức, phải căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ của mình được Nhà nước phân công, khi đến làm việc tại đơn vị được kiểm toán cần tự tin, khiêm tốn nhưng không quỵ lụy. Bản thân mỗi KTV phải đĩnh đạc trong quá trình làm việc, giao tiếp, nhưng không được thân thiện đến mức không còn khoảng cách, nếu không sẽ không giữ được tính độc lập của mình.

Tổng Kiểm toán nhà nước cũng nhấn mạnh, muốn được mọi người tôn trọng đối với mình thì trước hết mình phải ngay ngắn, rèn luyện lại cách ăn nói. Trong giao tiếp, trao đổi phải mạch lạc, có căn cứ, bằng chứng, lập luận rõ ràng, phải có cách nhìn một cách thận trọng toàn diện và đến khi kết luận thì phải chính xác. KTV khi vào làm việc với đơn vị thì phải hết sức nghiêm túc, đứng đắn, khiêm tốn, thể hiện được bản lĩnh, năng lực chuyên môn chỉ có như thế thì mới giữ được hình ảnh và uy tín của ngành KTNN.

Tổng Kiểm toán nhà nước cũng đưa ra một số gợi ý trong cách xưng hô khi giao tiếp. Ví dụ như xưng hô theo chức danh, xưng hô theo độ tuổi, xưng hô theo quan hệ xã hội, quan hệ đồng nghiệp, quan hệ cấp trên-cấp dưới...

3 giá trị cốt lõi trong văn hóa công sở và đạo đức nghề nghiệp KTV Nhà nước

Trao đổi xung quanh vấn đề yếu tố nào là giá trị cốt lõi làm nên sự khác biệt văn hóa công sở của KTNN so với các các cơ quan hành chính nhà nước khác? Tổng Kiểm toán nhà nước cho biết, đó là tính liêm chính, độc lập và khách quan. Đây là những giá trị cốt lỗi mà KTNN cần phải thực hiện. Để đạt được điều này, theo Tổng Kiểm toán nhà nước, KTV phải rất khiêm tốn, chuyên môn giỏi, giữ vững đạo đức nghề nghiệp KTV NN. Những yếu tố này mới làm nên giá trị của KTNN, lan tỏa được hình ảnh của KTNN để KTNN thực sự là công cụ tin cậy của Đảng, Nhà nước và nhân dân.

Ngoài ra, KTNN phải nâng cao chuyên môn để đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ, bởi xét từ góc độ kiểm tra tài chính, KTNN là cơ quan kiểm toán công tối cao của đất nước. Do đó cần sự nỗ lực của toàn ngành trong quá trình đào tạo, tích lũy kinh nghiệm, chia sẽ với các cơ quan kiểm toán tối cao trên thế giới; đổi mới phương pháp kiểm toán truyền thống sang phương pháp hiện đại, các dữ liệu lớn trong thời đại của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0. Làm được như vậy thì KTNN sẽ đạt được những mục tiêu đề ra trong những năm tới.

Khép lại phần trao đổi của mình, Tổng Kiểm toán nhà nước Hồ Đức Phớc khẳng định: Việc thực hiện đạo đức nghề nghiệp và văn hóa công sở đối với KTNN là việc làm thường xuyên. Trong thời gian tới KTNN sẽ có kế hoạch để triển khai một cách nghiêm túc nhất và ngành KTNN luôn luôn đi đầu trong vấn đề về đạo đức nghề nghiệp và văn hóa công sở. Tổng KTNN cho rằng, chỉ có như vậy mới xây dựng được hình ảnh và uy tín của ngành KTNN. Để KTNN phấn đấu trở thành một cơ quan kiểm tra tài chính tối cao có uy tín, trách nhiệm, chuyên nghiệp và hiện đại./.

 

Phương Vân, Đoàn TN KTNN, TL







Friday, June 26, 2020

Monday, June 22, 2020

Thủ tục phân tích trong kiểm toán BCTC



Thủ tục phân tích trong kiểm toán BCTC


Hoạt động kiểm toán ở Việt Nam, bắt đầu hình thành từ năm 1991 và được đánh dấu mốc phát triển mạnh mẽ đầu tiên khi Nghị định 105/2004/NĐ-CP dành riêng cho kiểm toán độc lập ra đời. Thị trường kiểm toán ngày càng phát triển và lớn mạnh, đồng nghĩa với sự cạnh tranh giữa các công ty kiểm toán ngày càng gay gắt. Đặc biệt, trong thời kỳ hội nhập nền kinh tế thế giới, các công ty kiểm toán Việt Nam phải chịu sức ép cạnh tranh từ các công ty kiểm toán quốc tế. Chính vì vậy, các công ty kiểm toán Việt Nam bằng nhiều cách khác nhau đang cố gắng tìm mọi cách tiếp cận với phương pháp, kỹ thuật kiểm toán tiên tiến trên thế giới, nhằm nâng cao chất lượng hoạt động kiểm toán của mình.
Một trong các công cụ hữu ích, giúp KTV thu thập bằng chứng kiểm toán cũng như đưa ra các kết luận kiểm toán phù hợp, giảm thiểu rủi ro kiểm toán đáng kể mà các công ty kiểm toán Việt Nam ngày nay đang hướng đến, trong cuộc kiểm toán BCTC là thủ tục phân tích. Đây là thủ tục kiểm toán khá đơn giản, ít tốn kém thời gian, chi phí nên nếu vận dụng tốt thủ tục phân tích sẽ giúp KTV và các công ty kiểm toán tiết kiệm thời gian, chi phí. Đồng thời, giúp cuộc kiểm toán được thực hiện một cách khoa học, hiệu quả. Chính vì vai trò, ý nghĩa to lớn trên của thủ tục phân tích nên việc tăng cường nghiên cứu và vận dụng phương pháp này một cách đúng đắn, khoa học là cần thiết, khách quan và phù hợp với xu thế kiểm toán trên thế giới.
Theo Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam - VSA 520 thì “Thủ tục phân tích được hiểu là việc đánh giá thông tin tài chính, qua việc phân tích các mối quan hệ hợp lý giữa dữ liệu tài chính và phi tài chính”.
Như vậy, thủ tục phân tích là quá trình đánh giá thông tin tài chính được thực hiện thông qua việc nghiên cứu các mối quan hệ đáng tin cậy giữa các chỉ tiêu tài chính và phi tài chính, …Bao gồm cả quá trình so sánh số liệu phản ánh trên sổ sách với số liệu ước tính của KTV. Thủ tục phân tích cũng bao gồm việc điều tra, khi cần thiết, về các biến động hoặc các mối quan hệ được xác định là không nhất quán với các thông tin liên quan khác hoặc có sự chênh lệch đáng kể so với các giá trị dự tính.
Thủ tục phân tích là một công cụ hữu dụng, để đưa ra các quyết định khi BCTC có chứa các mối quan hệ cũng như những khoản mục bất thường. Thủ tục phân tích có thể được tiến hành từ việc so sánh một cách cơ bản các khoản mục đến phân tích phức tạp để tìm ra những biến động bất thường.
Thủ tục phân tích có vai trò và ý nghĩa quan trọng, trong cả ba giai đoạn của cuộc kiểm toán BCTC. Nếu như trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán, KTV vận dụng thủ tục phân tích như các thủ tục đánh giá rủi ro nhằm xác định, khoanh vùng các rủi ro có sai sót trọng yếu trên BCTC thì trong giai đoạn thực hiện kiểm toán, KTV vận dụng thủ tục phân tích như một biện pháp xử lý các rủi ro đã được xác định trong giai đoạn lập kế hoạch. Và cuối cùng, trong giai đoạn kết thúc kiểm toán, KTV tiếp tục sử dụng phương pháp này để đánh giá sự biến động của các bộ phận, khoản mục sau khi được điều chỉnh trên BCTC có nhất quán với hiểu biết của KTV hay không? Tuy nhiên, việc vận dụng thủ tục phân tích trong kiểm toán BCTC tại các công ty kiểm toán Việt Nam hiện nay còn nhiều hạn chế. Cụ thể là:
Thứ nhất, trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán
Trong giai đoạn này, thủ tục phân tích chủ yếu được áp dụng như một phương pháp đánh giá rủi ro có sai sót trọng yếu bằng cách, xác định những biến động bất thường để khoanh vùng các khu vực có thể xảy ra sai sót trọng yếu. Tuy nhiên, trong thực tế nhiều KTV không sử dụng phương pháp này để đánh giá rủi ro trong giai đoạn lập kế hoạch. Nếu có, đối tượng vận dụng thủ tục phân tích cũng còn nhiều hạn hẹp. Ví dụ như, KTV hầu như chỉ thực hiện phân tích với Bảng cân đối kế toán và Báo cáo kết quả kinh doanh mà không áp dụng với Báo cáo lưu chuyển tiền tệ. Bên cạnh đó, KTV không vận dụng đa dạng các loại phân tích như phân tích dọc, phân tích tính hợp lý mà chỉ tập trung sử dụng phân tích ngang với các bộ phận, khoản mục trên Bảng cân đối kế toán và Báo cáo kết quả kinh doanh. Chính vì vậy, KTV chỉ nhận biết được tình hình biến động tăng giảm của các khoản mục giữa các kỳ mà không đánh giá mối quan hệ giữa các chỉ tiêu với nhau. Ngoài ra, các KTV chưa đi sâu vào việc phân tích kết hợp với các thông tin phi tài chính khác như chiến lược kinh doanh, chiến lược tài chính của đơn vị, các chính sách của Nhà nước cũng như các yếu tố khác, để nhận biết và đánh giá sâu sắc hơn các biến động bất thường, từ đó nhận biết các vùng có khả năng chứa đựng rủi ro.
Thứ hai, trong giai đoạn thực hiện kiểm toán
Đa phần công ty kiểm toán đều xây dựng chương trình kiểm toán chi tiết, về nội dung và cách thức vận dụng các thủ tục phân tích trong giai đoạn thực hiện kiểm toán, nhằm giảm thiểu kiểm tra chi tiết về nghiệp vụ và số dư tài khoản. Tuy nhiên, do hạn chế về thời gian nên nhiều KTV đã không thực hiện hoặc thực hiện sơ sài phương pháp này. Do đó, số lượng kiểm tra chi tiết nghiệp và số dư tài khoản tăng lên, tốn kém thời gian và chi phí cuộc kiểm toán. Với một số nhóm công ty kiểm toán nước ngoài, KTV thường áp dụng kỹ thuật phân tích ngang và phân tích dọc với các chỉ tiêu trên Bảng cân đối kế toán và Báo cáo kết quả kinh doanh với mức độ phân tích chi tiết hơn (theo tháng, theo sản phẩm, theo nội dung của khoản mục,...). KTV cũng tự xây dựng các ước tính trong trường hợp các dự liệu sử dụng để ước tính có độ tin cậy cao. Loại phân tích này, có thể cung cấp bằng chứng thay thế một số thử nghiệm kiểm tra chi tiết về nghiệp vụ và số dư tài khoản với một số cơ sở dẫn liệu nhất định. Bên cạnh đó, KTV ở các nhóm công ty kiểm toán này có thể thực hiện kiểm tra tính hợp lý của các số dư tài khoản bằng cách sử dụng các thông tin phi tài chính để phân tích.
Thứ ba, trong giai đoạn kết thúc kiểm toán
Thủ tục phân tích được tiến hành trong giai đoạn này, chủ yếu là phân tích soát xét BCTC lần cuối và đánh giá khả năng hoạt động liên tục của khách hàng. Đa phần các công ty kiểm toán và KTV vừa và nhỏ đều ít khi vận dụng thủ tục phân tích để thực hiện phân tích soát xét BCTC lần cuối. Bên cạnh đó, nhiều KTV và công ty kiểm toán cũng không tiến hành phân tích về khả năng hoạt động liên tục của khách hàng. Hầu hết, các công ty kiểm toán Việt Nam đều chưa biết đến việc vận dụng thủ tục phân tích để phân tích khả năng hoạt động của khách hàng như xét đoán các dấu hiệu lỗ liên tục trong nhiều năm, nợ ngắn hạn lớn hơn tài sản ngắn hạn, tính thanh khoản thấp hoặc không có sự hỗ trợ từ phía công ty mẹ,....
Như vậy, việc vận dụng thủ tục phân tích của KTV và các công ty kiểm toán Việt Nam trong cuộc kiểm toán BCTC còn nhiều hạn chế và không hiệu quả. Cụ thể là, phạm vi vận dụng của thủ tục phân tích còn hạn hẹp chỉ bao gồm Bảng cân đối kế toán, Báo cáo kết quả kinh doanh mà chưa mở rộng phân tích Báo cáo lưu chuyển tiền tệ và các thông tin phi tài chính khác. Bên cạnh đó, KTV ít sử dụng các kỹ thuật phân tích khác như phân tích tính hợp lý hay mô hình phân tích, dẫn đến làm giảm hiệu quả phân tích. Nhiều công ty kiểm toán vừa và nhỏ thực hiện thủ tục phân tích một cách máy móc, dập khuôn với tất cả các phần hành.
Một số định hướng hoàn thiện:
Thứ nhất, cần tăng cường công tác nghiên cứu về vận dụng thủ tục phân tích
Hoàn thiện việc vận dụng thủ tục phân tích trong kiểm toán BCTC phải hướng đến hoàn thiện về phạm vi, nội dung vận dụng của phương pháp này trong cả ba giai đoạn của cuộc kiểm toán. Ví dụ như, trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán, KTV có thể mở rộng phạm vi áp dụng phân tích ngang và phân tích dọc với Báo cáo lưu chuyển tiền tệ, hay so sánh các thông tin tương ứng của ngành. Đồng thời, KTV có thể kết hợp với phân tích các thông tin phi tài chính khác nhằm đưa ra xét đoán toàn diện hơn. Trong giai đoạn thực hiện kiểm toán, KTV có thể nghiên cứu và vận dụng thêm các mô hình ước tính để phân tích và xét đoán. Mô hình ước tính càng chi tiết thì độ tin cậy của nó càng cao. Đặc biệt, trong giai đoạn kết thúc kiểm toán, KTV cần vận dụng thủ tục phân tích để đánh giá tổng thể BCTC lần cuối và xem xét khả năng hoạt động liên tục của khách hàng,....
Thứ hai, nâng cao chất lượng của đội ngũ KTV
Chất lượng KTV là nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến chất lượng của cuộc kiểm toán BCTC nói chung và việc thực hiện quy trình thủ tục phân tích nói riêng của các công ty kiểm toán của Việt Nam. Chính vì vậy, các công ty kiểm toán cần tăng cường công tác nghiên cứu, trao đổi, bồi dưỡng nhằm nâng cao trình độ của KTV về việc vận dụng thủ tục phân tích trong cả ba giai đoạn của cuộc kiểm toán. Do đó, các công ty kiểm toán cần phối hợp với các tổ chức nghề nghiệp kiểm toán, cần tăng cường công tác đào tạo chuyên môn cho các KTV nhằm nâng cao chất lượng kiểm toán.
Thứ ba, tăng cường công tác soát xét chất lượng kiểm toán
Theo Thông tư số 157/2014/TT- BTC, các cơ quan có thẩm quyền như Bộ Tài chính, ủy ban Chứng khoán Nhà nước được phép thành lập đoàn kiểm tra định kỳ hoặc đột xuất tại các doanh nghiệp kiểm toán. Việc tăng cường công tác kiểm soát chất lượng hoạt động kiểm toán nói chung và kiểm soát chất lượng vận dụng thủ tục phân tích nói riêng của các cơ quan này, sẽ khắc phục thực trạng không vận dụng hoặc vận dụng sơ sài, không hiệu quả thủ tục phân tích của các công ty kiểm toán ở Việt Nam. Chính vì vậy, trong thời gian tới các cơ quan này phải tăng cường hơn nữa các chế tài xử phạt và tích cực kiểm tra giám sát việc vận dụng thủ tục phân tích nhằm nâng cao chất lượng kiểm toán của các công ty kiểm toán ở Việt Nam.
Tóm lại, việc nghiên cứu và vận dụng thủ tục phân tích trong kiểm toán BCTC ở các công ty kiểm toán Việt Nam còn nhiều hạn chế, bất cập. KTV, các công ty kiểm toán và các cơ quan có thẩm quyền liên quan cần phát huy tốt vai trò của mình. Đồng thời, phối hợp thực hiện đồng bộ với nhau thì mới có thể hoàn thiện việc vận dụng thủ tục phân tích trong kiểm toán BCTC, tăng cường năng lực cạnh tranh của các công ty kiểm toán Việt Nam.

Tài liệu tham khảo
  1. Giáo trình Lý thuyết kiểm toán xuất bản năm do TS Nguyễn Viết Lợi và Thạc sỹ Đậu Ngọc Châu chủ biên, Nxb Tài chính năm 2009.
  2. Hồ sơ kiểm toán của các công ty Nhân việt, AASC, AVA, A&C, ASCO...

Theo Tạp chí Kế toán & Kiểm toán – Bài của ThS NCS Đinh Thị Thu Hà * Khoa Kế toán – Học viện Tài chính












 Đề cương ôn tập kiểm toán


I. Lý thuyết:
Câu 1: Lịch sử hình thành và phát triển của kiểm tra tài chính
Ở thời cổ đại: kế toán được thực hiện chủ yếu bằng những dấu hiệu riêng trên các sợi dây, thân cây lá…Vì nhu cầu quản lý còn ít và đơn giản. Cuối thời cổ đại, sản xuất phát triển nhu cầu kiểm tra tài sản, khoản thu chi càng phức tạp. Quản lý và kiểm tra độc lập đã phát sinh ở La Mã, Anh, Pháp.
Từ trung đại trở đi có sự hoàn thiện và phát triển dần của kế toán
- Đặc biệt từ thế kỷ XVI trở đi, xuất hiện kế toán kép
- Từ những năm 30 của thế kỷ XX: quan hệ tài chính phát triển tới mức vượt tầm kiểm soát.
- Ở mỹ UB bảo vệ và trao đổi tiền tệ (SEC) được thành lập và quy chế về kiểm toán viên bên ngoài bắt đầu có hiệu lực.
- Từ những năm 50 của thế kỷ XX: nghiệp vụ ngoại kiểm toán được bổ xung liên tục về cấu trúc
+ Ở Pháp: Kiểm toán nội bộ xuất hiện chính thức
+ Ở Việt Nam: Kiểm tra kế toán rất được quan tâm ngay từ khi bắt đầu xây dựng đất nước. Lịch sử của kiểm tra kế toán thông qua các thời kỳ sau:
. Năm 1967 Liên bộ thống kê và tài chính ban hành chế độ ghi chép
. Từ tháng 5/1988, nhà nước ta ban hành pháp lệnh kế toán thống kê. Có tầm quan trọng:
Thể chế chế độ thông tin kiểm tra
Thể hiện sự phân biệt thông tin quản lý
Phục vụ cho sự quản lý thống nhất của nhà nước
Thể hiện tính thống nhất và tiêu chuẩn hóa cao
Chế độ kế toán mới đã được ban hành thay cho chế độ kế toán cũ
+ Kiểm toán độc lập: hình thành và phát triển trước ngày giải phóng miền nam
+ Kiểm tra vĩ mô của nhà nước: Có nhiệm vụ kiểm tra, thanh tra, kiểm soát việc thi hành chế độ thể lệ tài chính kế toán
Điều tra công việc, vụ việc
Lập biên bản
Vậy, kiểm toán nhà nước, kiểm toán nội bộ, kiểm toán độc lập phải hình thành những hệ thống pháp lí đến tổ chức bộ máy và từng bước hoàn thiện theo những yêu cầu đổi mới pháp lí.
Câu 2: Bản chất của kiểm toán
* Quan đểm 1: Đồng nhất giữa kiểm toán và kiểm tra kế toán
Quan điểm này xuất hiện năm 1986, quan điểm này mang tính truyền thống trong điều kiện kiểm tra chưa phát triển và trong cơ chế kế hoạch hóa tập trung trong đó nhà nước là chủ sở hữu đồng thời là người lãnh đạo trực tiếp nền kinh tế và chức năng kiểm tra được thực hiện trực tiếp bởi nhà nước và chức năng này gắn liền với hoạt động kế toán.
* Quan điểm 2: Đồng nhất giữa kiểm toán với kiểm toán tài chính. Quan điểm này phát sinh trong nền kinh tế thị trường
* Khái niệm kiểm toán: là hoạt động xác minh và bày tỏ ý kiến về bản khai tài chính của các xia nghiệp do các kiểm toán viên độc lập có trình độ nghiệp vụ tương đương thực hiện và dựa trên cơ sở hệ thống pháp lí đang có hiệu lực.
- Chức năng của kiểm toán: xác minh và bày tỏ ý kiến
+ Xác minh xem xét độ trung thực
+ Bày tỏ ý kiến: báo cáo kiểm toán và thử quản lí
- Đối tượng của kiểm toán: các bản khai tài chính
Báo cáo tài chính: Bảng cân đối kế toán, báo cáo kết quả kinh doanh, báo cáo lãi lỗ tài chính, thuyết minh báo cáo tài chính, các bảng khai theo quy định như bảng khai thuế thu nhập cá nhân, bản khai tài khoản kinh doanh, phá sản hoặc đấu giá.
- Chủ thể tiến hành cuộc kiểm toán: kiểm toán viên độc lập
Kiểm toán viên độc lập là việc kiểm tra xác nhận của kiểm toán về báo cáo tài chính của doanh nghiệp
- Điều kiện để trở thành kiểm toán viên độc lập:
+ Có trình độ chuyên môn, có chứng chỉ hành nghề do bộ tài chính cấp
+ Có phẩm chất đạo đức nghề nghiệp: không có tiền án tiền sự, trung thực, liêm khiết, thận trong nghề nghiệp.
+ Có 5 năm làm việc trong lĩnh vực tài chính kế toán
+ Tốt nghiệp chuyên nghành tài chính kế toán.
+ Tham gia thi 8 môn: 6 chuyên đề, thuế nâng cao, tài chính doanh nghiệp, luật kinh tế, kế toán doanh nghiệp, phân tích kinh doanh, kiểm toán và 2 môn bắt buộc tiếng anh và tin học.
+Đăng kí hành nghề
+ Có tính độc lập: độc lập về quan hệ xã hội,độc lập về quan hệ kinh tế, không góp vốn, không cho vay, không mua cổ phần và có thái độ hành nghề. Ở VN muốn trở thành một kiểm toán viên độc lập phải đăng kí làm việc ở 1 công ty.
- Khách thể kiểm toán: là các đơn vị được kiểm toán như các DN, XN, công ty…là các thực thể kinh tế có chứa đựng các bản khai tài chính.
- Cơ sở tiến hành cuộc kiểm toán: các chuẩn mực kế toán, chuẩn mực kiểm toán và những nguyên tắc chung được chấp nhận rộng rãi.
-Hạn chế của quan điểm:
+ Về đối tượng: chỉ mới dừng lại ở các bản khai tài chíh.
+ Về chủ thể: chưa có các tổ chức hoặc nhà nước tiến hành.
* Quan điểm 3: Theo quan điểm hiện đại kiểm toán được thực hiện trong 4 lĩnh vực sau:
- Kiểm toán thông tin là hướng đánh giá tính trung thực hợp pháp của tài liệu thông tin kế toán
- Kiểm toán quy tắc, tuân thủ là hướng đánh giá tình hình tuân thủ pháp luật, thể lệ, chế độ của đơn vị được kiểm toán trong quá trình hoạt động.
- Kiểm toán  hiệu quả: nhằm xác minh mlh giữa chi phí và kết quả, xem xét kết quả đầu ra trong mối tương quan với các yếu tố đầu vào. Kiểm toán hiệu quả thường áp dụng ở lĩnh vực kinh doanh với mục tiêu là tối đa hóa lợi nhuận trong khi các nguồn lực này ngày càng bị giới hạn.
- Kiểm toán hiệu năng: nhằm xem xét và đánh giá kết quả thực hiện các mục tiêu về pháp lí, về xã hội. Kiểm toán hiệu năng thường áp dụng ở khu vực sự nghiệp. Khi đó kiểm toán viên sẽ xem xét mục tiêu của chương trình dự án có đạt đc hay không trước khi xét đến yếu tố kinh phí thực hiện dự án là gì dựa trên nguyên tắc tiết kiệm nguồn lực.
Câu 3: Chức năng của kiểm toán
* Chức năng xác minh: Nhằm khẳng định mức độ trung thực của các tài liệu, tính pháp lí của việc thực hiện các nghiệp vụ hay việc lập các bảng khai tài chính.
Chức năng xác minh trong kiểm toán báo cáo tài chính đc cụ thể hóa thành 6 mục tiêu sau:
- Xác minh tính hiệu lực có thật không khai khống, nhằm kđ mọi tài sản, mọi khoản công nợ, mọi khoản mục nghiệp vụ đc ghi nhận trên bảng khai tài chính đều thực sự tồn tại.
- Xác minh tính trọn vẹn và đầy đủ nhằm kđ mọi tài sản, mọi khoản mục nghiệp vụ đã phát sinh có liên quan tới đơn vị đều đã đc ghi nhận đầy đủ và không bỏ xót.
- Xác minh sự đánh giá nhằm kđ mọi tài sản, mọi khoản công nợ đều đc ghi nhận theo đúng giá trị đúng theo các PP tính giá và các ước tính kế toán đc áp dụng 1 cách nhất quán.
- Xác minh tính phân loại và trình bày: nhằm kđ mọi tài sản, mọi khoản công nợ đều đc phân loại và trình bày đúng theo các khoản mục chi tiết trên bản khai tài chính và đc thuyết  minh đầy đủ rõ ràng.
- Xác minh quyền và nghĩa vụ: Nhằm kđ mọi tài sản  của đơn vị đc trình bày trên các bản khai tài chính đều thuộc quyền của đơn vị ( SD, sở hữu, định đoạt), mọi khoản công nợ đều là nghĩa vụ của đơn vị tại thời điểm lập báo cáo tài chính.
- Xác minh tính chính xác cơ học: nhằn kđ các phép tính tổng cộng cộng dồn hoặc chuyển sổ sang trang đc thực hiện 1 cách chính xác số dư trên sổ cái tổng hợp phải khớp đúng với sổ chi tiết và sổ phụ có liên quan.
Chức năng xác minh trong kiểm toán hoạt động ngoài 6 mục tiêu trên còn có mục tiêu về sự phê chuẩn.
* Chức năng bày tỏ ý kiến:
- Chức năng bày tỏ ý kiến đc hiểu là việc đưa ra ý kiến kết luận về chất lượng của thông tin, tính pháp lí của việc thực hiện các nghiệp vụ hoặc việc lập các bản khai tài chính.
- Ở khu vực công: Việc bày tỏ ý kiến của cơ quan kiểm toán nhà nước có thể đc thực hiện dưới hình thức tư vấn hoặc phán quyết như một quan tòa.
- Ở khu vực ngoài ngân sách, bày tỏ ý kiến đc thực hiện dưới hình thức tư vấn.
* Ý nghĩa và tác dụng của kiểm toán trong quản lysP:
- Kiểm toán tạo niềm tin cho những người quan tâm.
+ Cơ quan quản lí nhà nước: cần thông tin trung thực để điều hành kinh tế vĩ mô ( thu đúng và thu đủ thuế).
+ Nhà đầu tư: cần thông tin trung thực để có chiến lược đầu tư.
+ Nhà quản trị trong DN: Phục vụ cho việc điều hành
+ Người lao động: nhằm xác minh sự phân chia thu nhập
+ Khách hàng và nhà cung cấp: xem xét đến giá cả và khả năng thanh toán các khoản nợ.
- Kiểm toán góp phần hướng dẫn nghiệp vụ củng cố nề nếp hoạt động tài chính kế toán nói riêng và hoạt động quản lí nói chung.
- Kiểm toán góp phần nâng cao hiệu quả và hiệu năng quản lí.
Câu 4: Các loại hình kiểm toán
1.  Phân loại kiểm toán theo đối tượng cụ thể
* Kiểm toán tài chính:
- KN: Kiểm toán tài chính là xác minh và bày tỏ ý kiến về các bản khai tài chính của các thực thể kinh tế do các kiểm toán viên có trình độ nghiệp vụ tương xứng thực hiện trên cơ sở pháp lí đang có hiệu lực.
- Đối tượng: là các bản khai tài chính bao gồm báo cáo tài chính và các bản khai tài chính khác.
- Chủ thể:Kiểm toán tài chính đc thực hiện bởi 3 loại hình kiểm toán viên.Nhưng kiểm toán viên độc lập thực hiện là chủ yếu.
- Trình tự thực hiện cuộc kiểm toán ngược so với trình tự thực hiện kế toán.
- Mục đích thực hiện: Nhằm xác minh và bày tỏ ý kiến về tính trung thực và hợp lí của các bản khai tài chính. Vì vậy kiểm toán tài chính có thể đc thực hiện theo khoản mục hoặc theo trình tự.
- Cơ sở tiến hành: thước đo đúng sai của các bảng khai tài chính là chuẩn mực kế toán.
* Kiểm toán hoạt động:
- KN: Kiểm toán hoạt động là việc xác minh và bày tỏ ý kiến về các hoạt động nghiệp vụ cụ thể nhằm xem xét và đánh giá tính kinh tế, tính hiệu lực và tính hiệu quả.
- Đối tượng của kiểm toán hoạt động: là những hoạt động nghiệp cụ thể
+ Là việc đánh giá các phương án kinh doanh
+ Việc đánh giá cơ cấu tổ chức
+ Đánh giá chính sách bán hàng
+ Đánh giá một tài sản mới đc đưa vào sử dụng
+ Đánh giá về môi trường tin học
=> Đối tượng của kiểm toán hđ chính là các hoạt động diễn ra thường ngày của DN.
- Chủ thể: Được thực hiện bởi 3 loại hình kiểm toán viên, nhưng chủ yếu là kiểm toán nội bộ.
- Trình tự thực hiện cuộc kiểm toán hđ xuôi với trình tự thực hiện kế toán.
- Cơ sở tiến hành: do đối tượng của kiểm toán hđ  rất đa dạng và phức tạp. Vì vậy việc XD chuẩn mực cho kiểm toán hđ mang nặng tính chủ quan.
- Mục đích: Báo cáo kiểm toán mang nặng tính giải chính và thường đề xuất các biện pháp nhằm cải tiến, khắc phục.
* Kiểm toán liên kết:
- KN: đó là sự sát nhập của 2 loại hình kiểm toán trên và áp dụng tại các đơn vị công cộng. Đây là việc thẩm định và sắp xếp các công việc quản lí, các nguồn tài chính, nhân lực, vật lực đã ủy quyền cho người SD theo mục đích đã đặt ra. Với ý nghĩa như vậy, kiểm toán liên kết đồng thời phải giải quyết 2 yêu cầu sau:
+ Xác định tính trung thực của các thông tin tài chính, yêu cầu này tương ứng với mục tiêu của kiểm toán tài chính.
+ Hướng vào những thành tích và hiệu quả, trong đó xem xét việc thiết lập hệ thống thông tin quản lí cũng như việc điều hành hướng tới tối ưu hóa việc sd các nguồn lực. Tiết kiệm, hiệu quả và hiệu năng.
. Tiết kiệm: là việc mua sắm các nguồn lực phải đc xd 1 cách hợp lí cả về số lượng và đảm bảo về chất lượng với chi phí thấp nhất.
. Hiệu quả: QH giữa 1 bên là các sản phẩm d.vụ làm ra với 1 bên là các nguồn lực đã tạo ra chúng. Nhưng với yêu cầu kết quả đạt đc là tối đa, với chi phí về nguồn lực là tối thiểu.
. Hiệu năng: xét đến mục tiêu và kết quả của 1 chương trình. Các chương trình khác nhau về mục tiêu, về quản lí thì hiệu năng đạt đc là khác nhau.
2. Phân loại kiểm toán theo bộ máy tổ chức
* Kiểm toán nhà nước:
- KN: Kiểm toán nhà nước là bộ máy chuyên môn của nhà nước thực hiện kiểm toán ngân sách và tài sản công.
- Chủ thể của cuộc kiểm toán: là các kiểm toán viên trước đây là các công chức nhà nước đc bổ nhiệm vào ngành kiểm toán.
Có những loại kiểm toán sau: K’T viên cao cấp, K’T viên chính, K’T viên, K’T viên dự bị.
ĐK: là phải tốt nghiệp đại học hoặc công tác ít nhất 3 năm làm trong lĩnh vực K’T nhà nước.
- Khách thể: là các tổ chức , cá nhân có liên quan đến việc huy động, quản lý và SD nguồn ngân sách nhà nước.
- MQH giữa chủ thể và khách thể K’T là ngoại kiểm
- Tính chất pháp lí: bắt buộc
- Chi phí K’T: không thu phí
- Giá trị pháp lí của báo cáo K’T: BCK’T nhà nước có giá trị pháp lí rất cao.
- Mô hình tổ chức:
+Kiểm toán trực thuộc chính phủ: Làm tăng tính nawg động của chính phủ.
+ K’T nhà nước trực thuộc quốc hội: Đảm bảo đc tính khách quan, giúp cho việc ban hành các đạo luật đc chặt chẽ hơn.
+ K’T nhà nước độc lập với chính phủ và quốc hội.
* Kiểm toán độc lập:
- KN: Tổ chức bộ máy của các kiểm toán viên chuyên nghiệp, ngành kiểm toán và các dịch vụ khác theo thỏa thuận bằng hợp đồng thời hạn xác định.
- Các dịch vụ đc K’T viên độc lập cung cấp: DV K’T, DV tư vấn, DV làm kế toán.
- Chủ thể của cuộc K’T: Là các K’T viên chuyên nghiệp có trình độ nghiệp vụ và đạo đức nghề nghiệp.
+Trình độ nghiệp vụ: Các K’T viên phải có chứng chỉ hành nghề( chứng chỉ kiểm toán viên công chứng – CPA).
+ Đạo đức nghề  nghiệp: Các kiểm toán viên phải độc lập về các QH kinh tế và các QH xã hội đặc biệt là phải bí mật thông tin khách hàng.
-  Khách thể: Là những thực thể kinh tế trong nền kinh tế khi có nhu cầu  đc kiểm toán và đc chia làm 2 loại:
+ Khách thể bắt buộc: Các công ty kinh doanh tín dụng, các công ty 100% vốn nước ngoài, công ty kinh doanh bảo hiểm.
+ Khách thể tự nguyện: Trừ các loại trên
- MQH giữa chủ thể và khách thể: ngoại kiểm
- Tính chất pháp lí: tự nguyện
- Giá trị pháp lí: rất cao
- Chi phí kiểm toán: Có thu phí, mức phí tỉ lệ thuận với thời gian thực hiện cuộc kiểm toán.
- Mô hình tổ chức: Các cty kiểm toán độc, các cty hợp danh, các DN tư nhân kiểm toán, các cty TNHH 2 thành viên trở lên, văn phòng kiểm toán.
* Kiểm toán nội bộ
- KN: Là tổ chức bộ máy của các kiểm toán viên không chuyên nghiệp thực hiện kiểm toán trong phạm vi nội bộ DN nhằm phục vụ cho yêu cầu quản lí.
- Chủ thể: là các kiểm toán viên không chuyên nghiệp, nhưng nhất thiết phải có chứng chỉ viên CPA, Đây chủ yếu là các kiểm toán viên lâu năm hoặc những nhà quản lí có kinh nghiệm.
- Khách thể: chính là bản thân đơn vị đc kiểm toán hoặc những đơn vị bộ phận trực thuộc.
- MQH giữa chủ thể và khách thể kiểm toán là nội kiểm.
- Tính chất pháp lí là bắt buộc
- Giá trị pháp lí: không cao
- Chi phí: không thu phí
- Mô hình tổ chức:
+Bộ phận kiểm toán nội bộ đc áp dụng với các ngân hàng hoặc các tập đoàn kinh tế lớn.
+ Giám định viên kiểm toán.
* Phân loại theo quan hệ giữa chủ thể và khách thể  kiểm toán: gồm nội kiểm và ngoại kiểm.
* Phân loại theo phạm vi tiến hành kiểm toán: K’T toàn diện, K’T chọn điểm.
* Phân loại theo lĩnh vực cụ thể của kiểm toán: K’T thông tin, K’T quy tắc (K’T tuân thủ), K’T hiệu năng, K’T hiệu quả.
* Phân loại theo chu kì của kiểm toán: K’T thường kì(thường xuyên), K’T định kì và K’T bất thường.
* Phân loại theo quan hệ pháp lí của kiểm toán: K’T bắt buộc, K’T tự nguyện.
Câu 5: Nêu khái quát chung về đối tượng kiểm toán và các yếu tố cấu thành nên kiểm toán
Khái quát chung về đối tượng kiểm toán:
- Để xem xét thông tin trên BCTC có trung thực khách quan hay không, kiểm toán phải đối chiếu số dư, kiểm tra chứng từ, đối tượng đầu tiên của kiểm toán là các tài liệu kế toán.
- Thực trạng tài chính của DN có thể đc phản ánh trên tài liệu kế toán cũng có thể chưa đc phản ánh trên tài liệu kế toán, đối tượng của kế toán chính là thực trạng hoạt động tài chính.
- Bên cạnh những nội dung trên thì kiểm toán còn quan tâm tới các lĩnh vực khác của quản lí như hiệu quả SD các nguồn lực, hiệu năng các dự án…,đối tượng kiểm toán là hiệu quả, hiệu năng.
- Hoạt động tài chính là dùng tiền để giải quyết các mqh kinh tế trong đầu tư, kd, phân phối và thanh toán nhằm đạt đc lợi ích kinh tế xác định.
- Hoạt động tài chính phải tuân thủ các nguyên tắc:
+ Phải có mục tiêu, phương hướng và kế hoạch cụ thể
+ Đảm bảo tính tiết kiệm , có lợi
+ phải thực hiện chế độ tài chính nghĩa vụ với công nhân viên
Các yếu tố cấu thành nên kiểm toán:
*Thực trạng hoạt động tài chính:
- HĐ tài chính: Đối tượng chung của kiểm. Thông tin về hđ tài chính là mối quan tâm của đông đảo người sử dụng. Nhưng thông tin này có thể sai lệch. Có 2 nhận định:
+ HĐ tài chính là đối tượng của nhiều môn học như kinh tế học, tài chính, phân tích, kế toán, kiểm toán…trong đó kiểm toán chỉ quan tâm đến thực trạng hđ tài chính có nghĩa là tìm hiểu thực trạng và đưa ra ý kiến.
+ Thực trạng hđ tài chính có 2 phần rõ rệt: 1 phần được thể hiện trên các chứng từ, tài liệu, 1 phần không hoặc chưa được thể hiện trên bất kì 1 chứng từ hoặc tài liệu nào.
- Để thực hiện chức năng của mình trong kiểm toán phải hình thành  2 phân hệ phương pháp.
+ Phương pháp kiểm toán chứng từ: Để đánh giá phần thực trạng đã đc thể hiện trên các chứng từ, tài liệu.
+ Phương pháp kiểm toán  ngoài chứng từ: Để đánh giá phần thực trạng không hoặc chưa đc tiến hành thể hiện trên các chứng từ, tài liệu.
* Tài liệu kế toán: Là đối tượng cụ thể của kiểm toán
- KN: Tài liệu kế toán là hệ thống chứng từ, sổ sách bảng biểu và báo cáo tài chính kế toán.
- Tài liệu kế toán trở thành đối tượng của kinh tế vì đây là phần quan tâm trực tiếp và thường xuyên của nhà quản lý và những đối tượng quan tâm khác.
- Khi kiểm toán tài liệu kế toán, kiểm toán viên cần lưu ý những điểm sau:
+ Tính đầy đủ của tài liệu kế toán
+ Tính hiệu lực của tài liệu kế toán
+ Tính hợp pháp cảu các biểu mẫu và báo cáo tài chính kế toán
* Thực trạng tài sản và các nghiệp vụ tài chính:
- Trong 1 đơn vị, tài sản đc biểu hiện dưới nhiều hình thái vật chất khác nhau, đc lưu trữ ở nhiều kho bãi khác nhau với đk bảo quản là khác nhau.
- Đặc biệt ngày càng có sự cách biệt giữa người sở hữu tài sản với người quản lí và sd tài sản. Luôn có sự nghi ngờ của người sở hữu tài sản đối với thực trạng hđ của tài sản . Chính vì vậy, thực trạng hđ của tài sản trở thành đối tượng của kiểm toán là 1 đòi hỏi tất yếu khách quan.
- Trong một đơn vị tài sản và nguồn vốn luôn luôn vận động. Sự vận động của tài sản và nguồn vốn đc thông qua các nghiệp vụ tài chính. Vì vậy các nghiệp vụ tài chính cũng trở thành 1 phần quan trọng của đối tượng kiểm toán.
- Có thể phân chia cá nghiệp vụ tài chính thành các nhóm nghiệp vụ sau:
+ Các nghiệp vụ thu chi quỹ tiền mặt
+ Các nghiệp vụ mua sắm đầu tư TSCĐ
+ Các nghiệp vụ tính và chi trả lương
+ Các nghiệp vụ bán hàng và thu tiền
Đây chính là những phần hành của kế toán
* Hiệu quả hiệu quả và hiệu năng quản lí:
Đây là đối tượng mới của kiểm toán. Tuy nhiên có vai trò ngày càng quan trọng trong bối cảnh cạnh tranh khốc liệt, nguồn lực khan hiếm, tham vọng lớn, bối cảnh kinh doanh phức tạp. Có 1 số đặc điểm ảnh hưởng đến kiểm toán.
- Hiệu quả, hiệu năng phải gắn với 1 hoạt động, nghiệp vụ, dự án, chương trình cụ thể.
- Để đánh giá hiệu quả, hiệu năng, kiểm toán viên cần thiết lập các tiêu chuẩn, chuẩn mực để đánh giá các tiêu chuẩn và chuẩn mực này chỉ để mang tính tương đối và rất khó thiết lập trong đó tiêu chuẩn, chuẩn mực đánh giá hiệu quả dựa trên MQH giữa đầu ra và đàu vào sao cho đạt đc nhiều đầu ra nhất trên cơ sở đầu vào ít nhất đánh giá hiệu năng là các mục tiêu cần đạt đc.
Câu 6: Khái niệm gian lận, sai sót. Phân biệt gian lận và sai sót?
Khái niệm gian lận và sai xót:
* Gian lận:
- Kn: Gian lận là những hành vi cố ý lừa dối, giấu giếm, xuyên tạc sự thật với mục đích tư lợi.
- Các biểu hiện của gian lận:
+ Xuyên tạc,  làm giả chứng từ, tài liệu kế toán
+ Cố ý ghi chép các nghiệp vụ không có thật, bỏ xót các nghiệp vụ đã phát sinh.
+ Cố ý tính toán hay ghi chép sai về số học
+ Biển thủ về tài sản
+ Cố ý áp dụng sai chuẩn mực, chế độ kế toán.
* Sai xót:
- KN: Sai xót là lỗi không cố ý nhưng vẫn làm ảnh hưởng đến báo cáo tài chính.
- Các hình thức biểu hiện:
+ Lỗi về tính toán ghi chép sai về mặt số học nhưng không cố y.
+ Áp dụng sai chế độ kế toán, nhưng không cố ý.
* MQH giữa gian lận và sai xót:
- Giống nhau: Đều là sai phạm ảnh hưởng tới báo cáo tài chính và đều có tính chất liên đới đối với các nhà quản lí.
- Khái nhau:
+ Về mặt ý thức: Gian lận là hành vi cố ý thường lwan đến các nhà quản lí cấp cao như lập kế hoạch, xóa dấu vết… Sai xót là hành vi không cố ý.
+ Mức độ tinh vi và khả năng phát hiện: Gian lận là khả năng che đậy rất tinh vi và khó phát hiện. Sai xót dễ phát hiện.
+ Mức độ nghiêm trọng: Mọi gian lận đều nghiêm trọng. Sai xót nhỏ đều có thể bỏ qua.
Phân biệt gian lận và sai xót:
- Gian lận: Sự xúi giục, thời cơ, thiếu liêm khiết. Thời cơ đến từ lỗ hổng, điểm yếu của kiểm soát trong nội bộ DN hoặc đến từ các nhà quản lí có quyền phủ quyết các yếu tố kiểm soát.
- Sai xót: Sức ép tâm lí, công việc, môi trường làm việc có thể làm sai xót nảy sinh phát triển.
Trình độ xử lí công việc kém, tất yếu làm nảy sinh sai xót. Lề lối làm việc cẩu thả, thiếu thận trọng, thiếu trách nhiệm.
- Điều kiện làm sai phạm gia tăng bối cảnh kinh doanh khó khăn, nghiệp vụ phức tạp, các nhà quản lí có tư cách, cá nhân không “đắc nhân tâm”, kiểm toán tồi…
- Dấu hiệu phát hiện gian lận:
+ Cá nhân: những bất thường trong tâm lí, cảm xúc, hành vi…
+ Tổ chức(DN): Bị cơ quan công quyền điều tra, phí trả cho luật sư, môi giới, tư vấn cao đột biến.
* TRách nhiệm của kiểm toán viên đối với gian lận và sai xót:
- Hiểu và phân biệt đc thế nào là gian lận và sai xót
- Đánh giá đc khả năng xảy ra gian lận, sai xót.
- Lập kế hoạch thực hiện và giám sát thực hiện cuộc kiểm toán hoạt động có hiệu lực nhằm đảm bảo 1 cách hợp lí trong việc phát hiện các sai phạm trọng yếu.
- Báo cáo các phát giác của mình cho nhà quản lí, người sử dụng và cơ quan có thẩm quyền liên quan.
Câu 7: Trọng yếu và rủi ro kiểm toán ( rủi ro tiềm tàng, rủi ro kiểm soát, rủi ro phát hiện)
* Trọng yếu: là khái niệm chỉ độ lớn, bản chất của phần nội dung cơ bản của kiểm toán có ảnh hưởng tới việc nhận thức , đánh giá đúng đắn đối tượng kiểm toán và việc sử dụng thông tin đã đánh giá đó để ra quyết định quản lí.
- Vì sao phải quan tâm đến khái niệm này?
+ Có những sai phạm nhỏ không ảnh hưởng tới việc nhận thức, đánh giá đối tượng kiểm toán để đưa ra quyết định.
+ Việc phải tìm kiếm mọi sai phạm sẽ khiến cho chi phí xã hội của kiểm toán vượt quá lợi ích mà nó đem lại.
- Hai mặt của khái niệm trọng yếu
+ Định lượng: Sai phạm lớn là nghiêm trọng(tuyệt đối) sai phạm đủ to nhưng xét trên một phương diện nào đó.
+ Định tính( Báo cáo của sai phạm); sai phạm đó có phải cố ý không, có thể làm thay đổi tỉ suất lợi nhuận ko?
* Rủi ro kiểm toán(AR): Là rủi ro xảy ra khả năng kiểm toán kết luận của kiểm toánviên và DN kiểm toán có sự sai lệch khi báo cáo tài chính đã đc kiểm toán vẫn còn những sai phạm trọng yếu.
- Đánh giá rủi ro:
+ Rủi ro kiểm toán và bằng chứng kiểm toán có mlh tỉ lệ nghịch.
+ Rủi ro kiểm toán không bao giờ bằng o chi dù kiểm toán viên có thể thu thập đc đầy đủ các bằng chứng kiểm toán.
+ Ở mức rủi ro mong muốn, qua đó xác định đc khối lượng công việc cần thực hiện và tiết kiệm chi phí thay cho việc kiểm tra tất cả.
Các loại rủi ro kiểm toán:
- Rủi ro tiềm tàng(IR): Là rủi ro tiềm ẩn vốn có do bản thân các khoản mục, nghiệp vụ trong báo cáo tài chính chứa đựng các sai phạm trọng yếu khi tính riêng rẽ hay tính gộp cho dù có hay không có sự hoạt động của hệ thống kiểm soát nội bộ.
Rủi ro tiềm tàng phụ thuộc vào bản chất của loại hình kinh doanh. Kiểm toán viên ko tạo ra và cũng ko kiểm soát đc rủi ro tiềm tàng mà chỉ có thể đánh giá rủi ro tiềm tàng thông qua việc đánh giá bản chất của loại hình kinh doanh và thông qua việc đánh giá tính liêm chính của ban quản trị.
- Rủi ro kiểm soát(CR): Là rủi ro xảy ra khả năng các khoản mục nghiệp vụ trong báo cáo tài chính chứa đựng các sai phạm trọng yếu khi tính riêng lẻ hay tính gộp do hệ thống kiểm toán và hệ thống kiểm soát nội bộ không ngăn ngừa hết, ko phát hiện và xử lí kịp thời. Kiểm toán viên ko tạo ra đồng thời ko kiểm soát đc rủi ro kiểm soát. Kiểm toán viên chỉ có thể đánh giá RR kiểm soát thông qua việc đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ.
- Rủi ro phát hiện(DR): Là rủi ro xảy ra khả năng các khoản mục nghiệp vụ trong báo cáo tài chính chứa đựng các sai phạm trọng yếu khi tính riêng lẻ hay tính gộp do kiểm toán viên không phát hiện đc trong quá trình kiểm toán.
DR phụ thuộc vào phạm vi kiểm toán và PP kiểm toán mà kiểm toán viên sử dụng.
* Mối quan hệ giữa các loại rủi ro: AR =IR x CR x DR => DR = AR / (IR x CR).
Câu 8: Trình bày chứng từ kế toán,cơ sở dẫn liệu, bằng chứng kiểm toán và hồ sơ kiểm toán?
* Chứng từ kiểm toán:
- Là all các nguồn tài liệu sẵn có cung cấp cho kiểm toán viên. Đây vừa là đối tượng của kiểm toán vừa là căn cứ cơ sở cho việc xđ nội dung kiểm toán, mục tiêu kiểm toán và là minh chứng bằng văn bản cho các khoản mục nghiệp vụ phát sinh.
- Chứng từ kiểm toán bao gồm:
+ Chứng từ kế toán: Bảng kê, bảng tổng hợp chứng từ gốc, sổ tổng hợp, sổ chi tiết.
+ Các biên bản nghị quyết họp đại hội đồng cổ đông, hội đồng thành viên.
+ Các quyết định bổ nhiệm, miễn nhiệm các chức danh quản lí.
+ Các tài liệu kiểm kê và các tài liệu khác có liên quan.
* Cơ sở dẫn liệu:
- KN: Là những căn cứ cơ sở trong việc lập và trình bày báo cáo tài chính do ban giám đốc đơn vị chịu trách nhiệm lập dựa trên hệ thống pháp lí đang có hiệu lực.
- Có thể hiểu đơn giản cơ sở dẫn liệu của báo cáo tài chính là những cam kết công khai ko ngầm định trong việc lập và trình bày báo cáo tài chính của ban giám đốc đơn vị.
- Cơ sở dẫn liệu của báo cáo tài chính bao gồm:
+ Cơ sở dẫn liệu về sự hiện hữu và phát sinh. Ban giám đốc đơn vị cam kết rằng mọi tài sản, mọi khoản công nợ, mọi khoản mục nghiệp vụ kinh tế phát sinh đc nghi nhận trên bảng khai tài chính đều thực sự tồn tại và đã phát sinh có liên quan đến đơn vị.
+ Cơ sở dẫn liệu về tính trọn vẹn và đầy đủ. Ban giám đốc đơn vị cam kết rằng mọi nghiệp vụ kinh tế phát sinh có liên quan tới đơn vị đều đc ghi nhận đầy đủ và ko bỏ xót.
+ Cơ sở dẫn liệu về sự đo lường và đánh giá. BGĐ đơn vị cam kết rằng, mọi tài sản,mọi khoản công nợ đều đc ghi chép theo đúng giá trị thích hợp trên cơ sở chuẩn mực và chế độ kế toán hiện hành.
+ Cơ sở dẫn liệu về trình bày và công bố: BGĐ đơn vị cam kết rằng, mọi khoản mục trên báo cáo tài chính đều phù hợp  với chuẩn mực kế toán và nguyên tắc kế toán.
+ Cơ sở dẫn liệu về quyền và nghĩa vụ: BGĐ đơn vị cam kết rằng, mọi tài sản đều thuộc quyền của đơn vị, mọi khoản công nợ của đơn vị đều thuộc trách nhiệm của đơn vị phải trả.
+ Cơ sở dẫn liệu về tính chính xác cơ học: BGĐ đơn vị cam kết rằng, mọi nghiệp kinh tế phát sinh đều đc ghi chép theo đúng giá trị, đúng về toán học, các phép cộng dồn chuyển sổ sang trang là đúng.
* Bằng chứng kiểm toán:
- KN: Là all các thông tin, tài liệu do kiểm toán viên thu thập đc trong quá trình kiểm toán, làm căn cứ cơ sở cho việc hình thành ý kiến kiểm toán.
- Phân loại : theo 2 tiêu thức
+ Theo nguồn gốc:
. Bằng chứng kiểm toán do kiểm toán viên tự tính toán lại và khai thác đc.
. Bằng chứng kiểm toán do đơn vị đc kiểm toán cung cấp cho kiểm toán viên.
. Bằng chứng kiểm toán do bên thứ ba cung cấp: thư xác nhận của ngân hàng, đối chiếu số dư công nợ.
+ Theo loại hình: 3 loại
. Bằng chứng kiểm toán dưới dạng văn bản
. Bằng chứng kiểm toán dưới dạng hình ảnh
. Bằng chứng kiểm toán dưới dạng lời nói
- Đánh giá bằng chứng kiểm toán:
+ Đánh giá tính hiệu lực của bằng chứng: Là khái niệm chỉ chất lượng hay độ tin cậy của bằng chứng. Tính hiệu lực đc đánh giá theo nguyên tắc như sau:
. Bằng chứng kiểm toán do kiểm toán viên tự tính toán và khai thác đc có độ tin cậy cao hơn bằng chứng kiểm toán do đơn vị đc kiểm toán cung cấp cho kiểm toán viên.
. Bằng chứng kiểm toán có nguồn gốc ở bên ngoài đơn vị có độ tin cậy cao hơn bên trong đơn vị.
. Bằng chứng kiểm toán có nguồn gốc bên trong đơn vị có giá trị cao hơn khi hệ thống kiểm soát nội bộ hđ có hiệu lực.
. Bằng chứng kiểm toán có độ tin cậy cao hơn khi có nhiều nguồn thông tin  cùng xác nhận.
. Bằng chứng kiểm toán dưới dạng văn bản, hình ảnh có độ tin cậy cao hơn bằng chứng kiểm toán bằng lời nói.
+ Đánh giá tính đầy đủ: Là kn chỉ quy mô và số lượng của bằng chứng. Tính đầy đủ của bằng chứng phụ thuộc vào độ tin cậy của bằng chứng và quy mô của các khoản mục.
* Hồ sơ kiểm toán:
- Là all những tài liệu thông tin do kiểm toán viên lập, thu thập, phân loại, sd và lưu trữ liên quan đến 1 đơn vị đc kiểm toán.
- Phân loại:
+ Hồ sơ kiểm toán chung: Là lưu trữ những thông tin chung về đơn vị đc kiểm toán liên quan tới 2 hoặc nhiều năm tài chính.
+ Hồ sơ kiểm toán năm: Là lưu trữ những thông tin tài liệu liên quan tới một cuộc kiểm toán.
- Tác dụng của hồ sơ kiểm toán: Kiểm toán viên phải lập hồ sơ kiểm toán đầy đủ, chi tiết để cho kiểm toán viên khác hoặc người có trách nhiệm kiểm tra đọc sẽ hiểu đc toán bộ về cuộc kiểm toán.
Câu 9: Trình bày phương pháp kiểm toán chứng từ và kiểm toán ngoài chứng từ
* PP kiểm toán chứng từ:
- Kiểm toán cân đối:
+ KN: Là pp dựa trên các quan hệ cân đối kế toán(phương trình kế toán) và các cân đối khác để kiểm toán các quan hệ nội tại của các yếu tố cấu thành QH cân đối đó.
+ Nội dung PP:
. Kiểm toán cân đối tổng quát là việc xem xét mối tương quan của một phương trình kế toán.
. Kiểm toán viên sd nguyên tắc đối ứng tài khoản để xem xét các nghiệp vụ cụ thể do các nghiệp vụ kinh tế phát sinh rất đa dạng và phong phú. Trong khi đó, kiểm toán viên lại không thể kiểm toán đc all các nghiệp vụ. Vì vậy kiểm toán viên sẽ tập trung vào các nghiệp vụ kinh tế có khả năng sai phạm là lớn nhất: các nghiệp vụ phát sinh với số tiền lớn, các nghiệp vụ phát sinh ở đầu hoặc cuối mỗi niên độ kế toán.
Tổng phát sinh nợ = Tổng phát sinh có
Số dư cuối kì = số dư đầu kì + phát sinh tăng – phát sinh giảm
+ Điều kiện áp dụng pp cân đối kế toán: Chỉ đc áp dụng đối với những đối tượng kế toán có chứa các mqh cân đối.
- Đối chiếu trực tiếp:
+ KN: là việc so sánh đối chiếu về mặt lượng, trị số của cùng 1 chỉ tiêu trên các loại chứng từ kế toán khác nhau.
+ Các loại đối chiếu trực tiếp:
. Đối chiếu giữa số cuối kì và số đầu kì: Để xem xét sự biến động của một khoản mục nào đó. Từ đó nhận diện rủi ro của nghiệp vụ đấy.
. Đối chiếu giữa số thực hiện với số kế hoạch, dự đoán để đánh giá khả năng hoàn thành kế hoạch.
. Đối chiếu so sánh trị số của cùng 1 chỉ tiêu trên cùng 1 loại chứng từ nhưng đc lưu trữ ở nhiều địa điểm khác nhau ( hóa đơn GTGT , hóa đơn bán hàng).
. Đối chỉ số của chỉ tiêu tổng thể với các yếu tố cấu thành.
. Đối chiếu trị số của cùng một chỉ tiêu ở cùng một thời điểm nhưng lại đc phản ánh trên nhiều loại chứng từ khác nhau.
. Đối chiếu trị số của cùng 1 chỉ tiêu với số bình quân nghành hoặc với đơn vị cùng nghành, cùng quy mô để đánh giá và xem xét vị trí của đơn vị hay của DN.
+ ĐK áp dụng: PP đối chiếu trực tiếp chỉ đc áp dụng trong trường hợp các chỉ tiêu đưa ra so sánh, đối chiếu phải thống nhất về pp tính, về đơn vị tính và cùng trong một khoảng thời gian.
- Đối chiếu logic:
+ KN: Là việc so sánh đối chiếu trị số của các chỉ tiêu có mqh kinh tế trực tiếp song lại có mức biến động là khác nhau.
+ ĐK áp dụng: đc áp dụng khi kiểm toán viên phải hiểu rõ đc bản chất của các mqh.
* Các PP kiểm toán ngoài chứng từ:
- Kiểm kê:
+ KN: Là pp kiểm tra tại chỗ các loại tài sản trong kho và trong két nhằm cung cấp các bằng chứng về sự tồn tại, về thực trạng của tài sản, về số lượng và cũng có thể là giá trị của tài sản.
+ Các bước tiến hành kiểm kê:
B1: Chuẩn bị kiểm kê, XĐ thời gian, xđ phạm vi kiểm kê, chuẩn bị các đk vật chất phục vụ cho cuộc kiểm kê.
B2: Thực hiện kiểm kê. Tiến hành ghi chép các mã hàng hay từng lô hàng.
B3: Kết thúc kiểm kê. Lập báo cáo kiểm kê, xử lí các vấn đề phát sinh.
- Thực nghiệm:
+ KN: Là pp diễn lại hay nghiên cứu phân tích yếu tố cấu thành của 1 tài sản, 1 quá trình đã có, đã diễn ra và cần đc xác minh lại.
+ PP này thường đc sd để đánh giá trong việc xác định mức.
+ PP này rất tốt đối với công việc kiểm toán nhưng không phải lúc nào cũng áp dụng đc vì nó còn phụ thuộc vào thời gian, kinh phí, kĩ thuật của cuộc kiểm toán nên pp này còn tồn tại nhiều hạn chế.
- Điều tra:
+ KN: Là pp xác định nguồn tài liệu 1 thực trạng để đi đến quyết định hoặc kết luận cho một cuộc kiểm toán.
+ Các pp điều tra: Ngoài việc gửi thư xác nhận thì còn sd pp phỏng vấn quan sát. PP này ddc áp dụng phổ biến trong kiểm toán. PP này đc thực hiện trong những trường hợp sau:
. Tìm hiểu khách thể kiểm toán
. Tiếp cận với các bên có liên quan
. Xác minh bằng văn bản thông qua thư xác nhận
. Chọn mẫu hoặc chọn  điển hình các đối tượng kiểm toán.
Kết luận: Kiểm toán có đối tượng riêng và pp riêng độc lập.
Câu 10: Trình bày các phương pháp chọn mẫu?
KN: Chọn mẫu kiểm toán là việc lựa chọn 1 số phần tử gọi là mẫu từ 1 tập hợp các phần tử gọi là tổng thể và sd các đặc trưng của mẫu để rút ra suy đoán cho đặc trưng của toàn bộ tổng thể.
* Chọn mẫu ngẫu nhiên (chọn xác suất): Là pp chọn khách quan theo đúng những pp xác định nhằm bảo đảm mọi phần tử của tổng thể đều có khả năng như nhau trong việc hình thành mẫu chọn.
Các pp chọn mẫu ngẫu nhiên bao gồm: Dựa vào bảng ngẫu nhiên, chương trình máy tính và chọn hệ thống.
- Quy trình sd bảng số ngẫu nhiên: Là các con số đc trình bày theo hàng, cột dưới dạng số có 5 chữ số, giữa các chữ số không có mqh với nhau.
B1: Định lượng đối tượng kiểm toán bằng con số duy nhất: gán cho mỗi tổng thể 1 số báo danh (Lưu ý: nên tận dụng các con số có liên quan đến phần tử).
B2: Thiết lập mqh giữa các con số, giữa số ngẫu nhiên với số định lượng cho đối tượng kiểm toán. Có 3 trường hợp:
+ Con số định lượng cho đối tượng kiểm toán có 5 chữ số. MQH 1 – 1
+ MQH giữa các con số định lượng cho đối tượng kiểm toán < 5 chữ số: Bỏ xót chữ số trong số ngẫu nhiên đc chọn để đc số ngẫu nhiên = với chữ số của con số định lượng cho đối tượng kiểm toán.
+ Con số định lượng cho đối tượng kiểm toán > 5 chữ số: Kiểm toán viên phải xác định cột chủ là cột lấy đủ 5 chữ số và cột phụ là cột lấy thêm chữ số cấn thiết ghép với con số ngẫu nhiên của cột chủ để đc ngẫu nhiên có số = với số chữ số của con số định lượng cho đối tượng kiểm toán.
B3: Lập hành trình sd bảng. Kiểm toán viên xđ hướng đi của việc chọn ngẫu nhiên là theo hàng hay theo cột (xuôi hay ngược, từ trái đến phải hay từ phải sang trái).
+ Chọn theo hàng, bắt đầu từ đầu hàng.
+ Chọn theo hàng, bắt đầu từ cuối hàng.
+ Chọn theo cột từ trên xg, hết cột này đến cột kia.
B4: Chọn điểm xuất phát: ĐC chọn một cách ngẫu nhiên, đây là điểm bắt đầu của cuộc hành trình sd bảng. Lưu ý chọn mẫu có 2 trường hợp:
+ Chọn mẫu lặp: 1 phần tử đc phép xuất hiện lần thứ 2 trở đi trong mẫu, mẫu lặp ít đc sd là do số phần tử khảo sát thực tế giảm xg.
+ Chọn mẫu không lặp: 1 phần tử ko đc phép xuất hiện lần thứ 2 trong mẫu.
- Chọn mẫu ngẫu nhiên theo chương trình máy tính: Kiểm toán viên sd chương trình máy tính để chọn mẫu. Cơ sở của viết chương trình chọn mẫu là sd bảng số ngẫu nhiên.







- Chọn mẫu hệ thống: Là chọn các phần tử cách nhau 1 khoảng xác định trước.
B1: Xác định khoảng cách mẫu
K=(Số phần tử của tổng thể) / (Số phần tử mong muốn của mẫu (cơ mẫu)) (lấy phần nguyên).
B2: Chọn điểm xuất phát. Chọn ngẫu nhiên trong K phần tử đầu tiên.
B3: Chọn cụ thể kể từ điểm xuất phát cứ cách K phần tử ta lại chọn 1 phần tử.
Nhận xét: Dễ làm, không phải đánh số lại các phần tử của tổng thể. Tuy nhiên mẫu dễ bị thiên lệch nếu các phần tử mẫu ko đc sắp xếp ngẫu nhiên.
Lưu ý: Để tăng tính đại diện cho mẫu, kiểm toán viên có thể chọn nhiều điểm xuất phát. Khi đó khoảng cách mẫu đc điều chỉnh bằng cách lấy khoảng cách mẫu hiện tại nhân với số điểm xuất phát.
* PP chọn mẫu phi xác xuất: Các phần tử ko có cơ hội như nhau để đc lựa chọn vào mẫu kiểm toán viên dựa vào nhận định nhà nghề để nhận xét và quyết định chọn phần tử nào.
- Chọn mẫu theo khối(theo lô): Là việc chọn một tập hợp các phần tử kế tiếp nhau trong 1 tổng thể. Do đó việc xác định các mẫu cụ thể cần chú ý đến trường hợp thay đổi hệ thống kế toán và chính sách thuế, tính thời vụ của nghành kinh doanh.
- Chọn mẫu theo nhận định của kiểm toán viên:
+ Đây là pp chọn mẫu kiểm toán viên tiến hành hoàn toàn dựa vào nhận định, sự xét đoán của bản thân kiểm toán viên.
+ ĐK áp dụng: Trong trường hợp kiểm toán viên phải có am hiểu tốt về nghiệp vụ của khách hàng và phải tiến hành phân tích chúng kĩ lưỡng.
+ PP này có chi phí thấp nhưng rủi ro kiểm toán có thể rất lớn nếu bản thân kiểm toán viên không nhận định đc mẫu điển hình.
+ Khi thực hiện chọn mẫu, kiểm toán viên thường tập trung chú ý tới việc phân bổ mẫu chọn theo 3 hướng:
. Theo loại nghiệp vụ kinh tế chủ yếu
. Theo quy mô: Những khoản mục có số tiền lớn vào 1 mẫu.
. Theo phần việc do các nhân viên khác nhau phụ trách.
 Câu 11: Trình bày chuẩn bị kiểm toán, thực hành kiểm toán và kết thúc kiểm toán?
* Chuẩn bị kiểm toán: Mục tiêu và trình tự tổ chức kiểm toán
B1: Xác định mục tiêu và phạm vi kiểm toán. Mục tiêu kiểm toán là đích cần đạt tới và là thước đo kết quả kiểm toán cho từng cuộc kiểm toán cụ thể, phạm vi kiểm toán là sự giới hạn về ko gian và thời gian của đối tượng kiểm toán và thường đc xđ đồng thời với mục tiêu kiểm toán. Đây là 1 hướng cụ thể hóa mục tiêu kiểm toán.
B2: Bố trí nhân sự và chuẩn bị đk cần thiết. Bố trí nhân sự là chỉ định ra người phụ trách cuộc kiểm toán(tùy thuộc vào mục tiêu, phạm vi và bản chất của cuộc kiểm toán). Chuẩn bị đk cần thiết, các phương tiện vật chất, thiết bị và các đk phù hợp với đối tượng kiểm toán như phương tiện kiểm kê.
B3: Thu thập thông tin. Mục đích giúp kiểm toán viên đưa ra các hướng quyết định về kiểm toán mà chưa đặt ra ,mục tiêu thu thập bằng chứng kiểm toán cho kết luận kiểm toán. Các thông tin cần thu thập:
- Các nghị quyết, văn bản có liên quan đến khách thể kiểm toán và đối tượng kiểm toán.
- Các kế hoạch dự đoán và dự báo có liên quan.
- Các báo cáo kiểm toán lần trước, các biên bản kiểm kê hoặc xử lí các vụ đã xong trong khi kiểm toán.
- Các tài liệu liên quan.
B4 : Lập kế hoạch kiểm toán là quá trình cân đối tích cực nhu cầu và nguồn lực đã có. Lập kế hoạch kiểm toán bao gồm :
- Xác định mục tiêu công việc : Cụ thể hóa, chính xác hóa các mục tiêu và phạm vi kiểm toán
- Xác định bởi thời gian thực hiện công việc kiểm toán
- Xác định số người thực hiện công việc kiểm toán
- Xác định chi phí thực hiện công việc kiểm toán( đặc biệt áp dụng với kiểm toán độc).
B5 : Xây dựng phương trình kiểm toán(XD kế hoạch kiểm toán chi tiết) là việc xác định số lượng và thứ tự các bước kể từ thời điểm bắt đầu đến khi kết thúc cuộc kiểm toán. Việc lập kế hoạch kiểm toán chi tiết yêu cầu xác định rõ : Việc lựa chọn các trình tự kiểm toán và các thủ tục kiểm toán áp dụng đối với từng bộ phận và khoản mục cần kiểm toán.
* Thực hành kiểm toán : Là quá trình thực hiện đồng bộ các công việc đã ấn định trong kế hoạch, chương trình kiểm toán. Kiểm toán viên cần phải tôn trọng 4 nguyên tắc :
- Tuyệt đối tuân thủ chương trình kiểm toán đã đc xây dựng, trong mọi trường hợp kiểm toán không đc tự ý thay đổi chương trình.
- Trong quá trình kiểm toán, kiểm toán viên phải thường xuyên ghi chép những nhận định về các nghiệp vụ, các con số…nhằm tích lũy nhứng bằng chứng cho kết luận của kiểm toán.
- Định kì tông hợp kết quả kiểm toán trên các bảng tổng hợp.
- Mọi điều chỉnh về nội dung, phạm vi, trình tự kiểm toán… đều phải có ý kiến thống nhất giữa chủ thể và khách thể kiểm toán.
* Kết thúc kiểm toán : Kiểm toán viên cần đưa ra kết luận kiểm toán về đối tượng kiểm toán và lập báo cáo hay biên bản kiểm toán. Kết luận kiểm toán là sự khái quát kết quả thực hiện các chức năng của cuộc kiểm toán trong từng cuộc kiểm toán cụ thể. Kết luận kiểm toán phải đảm bảo yêu cầu sau :
- Về nội dung : Kết luận kiểm toán phải phù hợp đầy đủ.
- Tính pháp lí của kết luận kiểm toán.
* Hình thức của kết luận báo cáo kiểm toán
- Báo cáo kiểm toán đc sd trong kế toán tài chính
- Biên bản kiểm toán : Thường đc sd trong kiểm toán nội bộ. Báo cáo kiểm toán đc phát hành dưới 1 trong 4 hình thức sau :
+ Ý kiến chấp nhận hoàn toàn đc sd trong trường hợp kiểm toán viên và DN kiểm toán cho rằng báo cáo tài chinhscuar đơn vị đã phản ánh trung thực và hợp lí xét trên những khía cạnh trọng yếu tình hình tài chính của đơn vị.
+ Ý kiến chấp nhận từng phần(ý kiến loại trừ) đc sd trong trường hợp kiểm toán viên chỉ ra đc 1 hoặc 1 số sai phạm trọng yếu liên quan tới 1 hay 1 số khoản mục hoặc tồn tại sự bất đồng chưa đc sử lí cho tới thời điểm lập báo cáo kiểm toán giữa kiểm toán viên và ban giám đốc đơn vị đc kiểm toán.
+ Ý kiến bác bỏ(ý kiến trái ngược) đc sd trong TH kiểm toán viên và DN kiểm toán chỉ ra đc các sai phạm trọng yếu liên quan tới 1 số khoản mục lớn tới mức kiểm toán viên cho rằng ý kiến chấp nhận từng phần là chưa đủ để thể hiện tính chất và mức độ sai phạm.
+ Ý kiến từ chối đưa ra ý kiến : ĐC sd trong TH kiểm toán viên bị giới hạn bởi các yếu tố khách quan liên quan tới 1 số các khoản mục liên tới mức kiểm toán viên không thu thập đc đầy đủ các bằng chứng phục vụ cho việc đưa ra các ý kiến.
Chú ý : Trong TH kiểm toán viên đưa ra ý kiến loại trừ, bác bỏ hoặc ý kiến từ chối thì kiểm toán viên cần nêu rõ lí do và các bằng chứng kèm theo.
Câu 12 : Trình bày khái niệm chuẩn mực, hình thức chuẩn mực và GAAS
* Chuẩn mực kiểm toán : Là những quy phạm pháp lí, là thước đo chung của chất lượng công việc kiểm toán và dùng để điều tiết hành vi của kiểm toán viên và các bên hữu quan theo hướng và mục tiêu đã định.
* Hình thức biểu hiện của chuẩn mực kiểm toán : Luật kiểm toán. Hệ thống chuẩn mực kiểm toán về nghề nghiệp sd trong kiểm toán tài chính.
* GAAS (nhóm chuẩn mực kiểm toán đc chấp nhận phổ biến) gồm 3 nhóm :
- Nhóm chuẩn mực chung
+ Việc kiểm toán phải do 1 người hoặc 1 nhóm người đc đào tạo nghiệp vụ tương xứng và thành thạo nhử một kiểm toán viên thực thụ thực hiện.
+ Trong tất cả các vấn đề liên quan tới cuộc kiểm toán, kiểm toán viên phải giữ một thái độ độc lập.
+ Kiểm toán viên phải duy trì sự thận trọng nghề nghiệp đúng mực trong suốt cuộc kiểm toán( lập kê hoạch, thực hiện kiểm toán và lập báo cáo kiểm toán)
- Nhóm chuẩn mực thực hành :
+ Phải lập kế hoạch chu đáo cho cuộc kiểm toán và giám sát chặt chẽ những người giúp việc nếu có.
+ Phải hiểu biết đầy đủ về hệ thống kiểm soát nội bộ để lập kế hoạch kiểm toán và xác định nội dung, thời gian, quy mô của các cuộc thử nghiệm sẽ thực hiện.
+ Phải thu đc đầy đủ bằng chứng có hiệu lực thông qua việc kiểm tra, quan sát, thẩm vấn và xác nhận để đc những cơ sở pháp lí cho ý kiến về báo cáo tài chính đc kiểm toán.
- Nhóm chuẩn mực báo cáo
+ Báo cáo kiểm toán phải xác nhận bản khai tài chính có đc trình bày phù hợp với những nguyên tắc kế toán đc chấp nhận rộng rãi hay không.
+ Báo cáo kiểm toán phải chỉ ra những TH không nhất quán về nguyên tắc giữa kì này với kì trước.
+ Phải xem xét các báo cáo trên bảng khai tài chính có đầy đủ một cách hợp lí không trừ những TH khác đc chỉ ra trong báo cáo.
+ Phải đưa ra ý kiến về toàn bộ bảng khai tài chính hoặc khẳng định không thể đưa ra ý kiến đc kèm theo nêu rõ ý kiến.
II. Bài tập :